Showing posts with label 7. NGÂN HÀNG. Show all posts
Showing posts with label 7. NGÂN HÀNG. Show all posts

15.7.09

Ảnh hưởng tới thị trường tài chính Việt Nam từ báo cáo của Fitch Rating


Việc Fitch Ratings ngày 30/6/2009 đã giảm mức đánh giá uy tín tín dụng nội tệ dài hạn của Việt Nam dường như không tác động nhiều tới thị trường.

Tổ chức đánh giá tín dụng Fitch Ratings ngày 30/6/2009 đã giảm mức đánh giá uy tín tín dụng nội tệ dài hạn của Việt Nam từ mức BB xuống BB-. Dưới đây là bài viết phân tích tác động của việc hạ xếp hạng này tới thị trường tài chính trong nước của ba tác giả Lê Anh Tuấn, Dan Svensson, Scott Robertson thuộc bộ phận nghiên cứu Dragon Capital viết trên Thời báo Kinh tế Sài Gòn..
Trong báo cáo của Fitch, nguyên nhân chính cho quyết định hạ mức tín dụng này là tình hình tài khóa của Việt Nam. Fitch cho rằng cơ cấu nguồn thu của ngân sách chưa mạnh do nền tảng nguồn thu còn nhỏ hẹp và sự phụ thuộc vào nguồn thu từ dầu khí vốn nhiều biến động về giá.

Cơ sở những đánh giá của Fitch Ratings

Bất cứ một quốc gia nào đều có khả năng phát hành tiền. Điều này đồng nghĩa với việc họ có quyền phát hành thêm tiền để trả những khoản nợ bằng đồng nội tệ, vậy tại sao định mức tín nhiệm của đồng nội tệ không phải tất cả đều là AAA.

Việc phát hành thêm tiền có khả năng khiến nền kinh tế bị tổn thương hơn là trì hoãn việc trả nợ vay trái phiếu bằng đồng nội tệ. Điều này có nghĩa phần lớn các nhân tố ảnh hưởng lên việc đánh giá định mức tín nhiệm của đồng nội tệ đều liên quan tới vấn đề lạm phát kỳ vọng cao và tình hình tài khóa chỉ là một trong những nguyên nhân.


Diễn biến huy động trái phiếu trong 8 năm trở lại đây (Nguồn: TBKTSG)

Theo Fitch Ratings, lạm phát kỳ vọng cuối năm 2009 sẽ vào khoảng 7,3%, đây là mức thấp hơn mức lạm phát bình quân trong tám năm qua. Thêm vào đó, lạm phát tính theo tháng gần đây có cao hơn so với các tháng trong quí 1 và đầu quí 2, tuy nhiên mức lạm phát này vẫn thấp hơn hoặc bằng với mức lạm phát bình quân tính theo từng tháng trong quá khứ.

Điều quan trọng khác là gần đây các cơ quan chính phủ đã thận trọng và cảnh giác với vấn đề lạm phát nên khó có khả năng lạm phát quá cao quay trở lại.

Cơ cấu trái chủ của trái phiếu bằng đồng nội tệ là một yếu tố rất quan trọng trong việc đánh giá tín nhiệm. Nếu các tổ chức nước ngoài nắm giữ phần lớn trái phiếu phát hành bằng đồng nội tệ sẽ làm tăng thêm độ rủi ro về cán cân thanh toán và ảnh hưởng trực tiếp lên tỷ giá hối đoái.

Điều này được giải thích như sau: khi các nhà đầu tư nước ngoài hoảng loạn, họ sẽ tranh bán trái phiếu đồng nội tệ để chuyển qua đồng đô la Mỹ; và để tránh vỡ nợ trên đồng ngoại tệ, một quốc gia có thể phải tuyên bố không trả được nợ trên đồng nội tệ để hạn chế việc chuyển đổi qua đồng đô la. Thêm vào đó áp lực bán trái phiếu sẽ đẩy lãi suất lên cao làm cho khả năng huy động vốn của chính phủ khó khăn hơn.

Một ví dụ điển hình của trường hợp này là Cộng hòa Liên bang Nga vào năm 1998. Ở Việt Nam vào đầu năm 2008, nước ngoài nắm giữ khoảng 4,2 tỉ đô la Mỹ trong tổng số 12 tỉ đô la trái phiếu nội tệ đã phát hành. Bắt đầu từ quí 2-2008 tới hết quí 1-2009 nước ngoài bán ròng trái phiếu nội tệ, giảm giá trị nắm giữ về còn khoảng 500 triệu đô la Mỹ. Tuy nhiên trong báo cáo của Fitch không đề cập tới vấn đề này.

Theo Fitch Ratings, tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP đã tăng nhanh trong thời gian qua, tuy nhiên điều này có lẽ hơi thiếu chính xác. Chúng ta có thể thấy tỷ lệ nợ của Chính phủ so với GDP tăng nhanh từ năm 2001 đến 2007, tuy nhiên đã bắt đầu giảm xuống từ năm 2008.

Tỷ lệ thâm hụt ngân sách trong sáu tháng đầu năm so với dự kiến GDP vào khoảng 1,6%. Nếu tính cả các khoản chi ngoài ngân sách, con số 9,3% thâm hụt ngân sách do Fitch đưa ra là khá cao. Theo báo cáo mới đây của Ngân hàng Thế giới, giá dầu thô dùng để dự toán cho ngân sách nhà nước vào khoảng 70 đô la Mỹ/thùng. Tuy nhiên, có lẽ họ đã không tính toán tới việc một số mỏ dầu mới đã đi vào hoạt động trong năm nay sẽ làm tăng sản lượng dầu thô lên khoảng 20%. Một khía cạnh nào đó, rủi ro của Việt Nam có thể bị đánh giá cao hơn thực tế do sự thiếu minh bạch trong vấn đề thông tin.

Chúng tôi khá ngạc nhiên về thời điểm Fitch đưa ra quyết định hạ mức tín nhiệm đồng nội tệ của Việt Nam.

Thị trường tài chính chưa bị ảnh hưởng bởi báo cáo của Fitch Ratings

Lãi suất trái phiếu bắt đầu tăng nhẹ trở lại từ giữa tháng 4-2009. Việc gia tăng này một phần là do trước đó lãi suất đã giảm quá mạnh. Và từ cuối tháng 4-2009 thị trường cũng bắt đầu cảm nhận được áp lực của tình hình tài khóa.

Điều đáng chú ý là khối nước ngoài sau một thời gian dài bán ròng trái phiếu đã bắt đầu mua ròng trở lại trong hai tháng gần đây. Sau báo cáo của Fitch lãi suất trái phiếu hầu như chẳng thay đổi gì. Có lẽ những vấn đề mà Fitch Ratings nêu lên đã được thị trường trái phiếu phản ánh vào lãi suất từ ba tháng trước đó.


Nguồn: TBKTSG

Một điểm quan trọng khác khi đánh giá mức độ tín nhiệm đồng nội tệ là độ chênh lệnh giữa lãi suất dài hạn và ngắn hạn. Độ chênh lệnh này phản ánh rủi ro lãi suất cũng như khả năng vay vốn dài hạn của Chính phủ ở một chi phí hợp lý.

Độ chênh lệch lãi suất trái phiếu 15 năm hiện nay so với trái phiếu một năm vẫn còn thấp hơn độ chênh lệch bình quân trước tháng 4-2008. Lượng trái phiếu nội tệ đã phát hành ở các kỳ hạn dài còn rất thấp, chứng tỏ Việt Nam vẫn còn khả năng huy động nguồn vốn ở các kỳ hạn dài.

Trái phiếu quốc tế của Việt Nam phát hành năm 2005 (Vietnam Sovereign Bond) sau một thời gian giao dịch ở mức gần 9% đã liên tục giảm mạnh và hiện tại đang dao động ở mức 6,9%/năm. Sau báo cáo của Fitch Ratings, mức giá chào bán và mua của loại trái phiếu này hoàn toàn không thay đổi.


Nguồn: TBKTSG

Về thị trường ngoại hối, Ngân hàng Nhà nước đã nhanh chóng và kịp thời cung cấp thông tin để ổn định tỷ giá sau những tin đồn không chính xác về việc mở rộng biên độ giao dịch hay việc điều chỉnh thị giá liên ngân hàng trong thời gian gần đây.

Thị trường ngoại hối liên ngân hàng gần như không có phản ứng đối với báo cáo của Fitch Ratings. Tỷ giá giao dịch vẫn ở mức ổn định và các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam vẫn tiếp tục chào bán và chào mua đồng Việt Nam/đô la Mỹ một cách bình thường sau báo cáo của Fitch.

Về thị trường CDS - “hợp đồng bảo lãnh nợ khó đòi” - (Credit Default Swap). Các hợp đồng này do các tổ chức tài chính và các công ty bảo hiểm quốc tế bán ra, theo đó bên mua CDS được bên bán bảo đảm sẽ hoàn trả đầy đủ số nợ cho vay nếu bên vay không trả được nợ. CDS là một công cụ tài chính dựa trên nguyên tắc của việc hoán đổi, tuy nhiên có nguyên tắc giống như một hợp đồng bảo hiểm và được khối nước ngoài quan tâm khi đánh giá tín nhiệm nợ ngoại tệ của một quốc gia.

Đối với CDS trên trái phiếu chính phủ, đối tượng được bảo hiểm là trái phiếu chính phủ. Điều này có nghĩa CDS cho một nước càng lớn thì trái phiếu do chính phủ nước đó phát hành càng có rủi ro cao, ít nhất theo quan điểm của thị trường CDS.

Thực chất thị trường CDS có mối tương quan cao đối với định mức tín nhiệm nợ bằng ngoại tệ hơn là nội tệ. Tuy nhiên, hai định mức tín nhiệm này có mối tương quan rất gần nhau, do đó các nhà kinh doanh CDS chắc chắn sẽ phản ánh các biến động mang tính chất quan trọng vào giá trị hợp đồng của họ.


Diễn biến CDS- Nguồn: TBKTSG

CDS của Việt Nam đã giảm mạnh từ mức trên 500 trước tháng 3-2009 về mức 300 gần đây. Chúng ta không thể phủ nhận CDS của Việt Nam giảm xuống một phần được giải thích bởi mức ngại rủi ro (risk aversion) đối với các nước đang phát triển đã giảm xuống. Sau báo cáo của Fitch Ratings, CDS của Việt Nam gần như không đổi.

Nếu không tính đến những biến động nhỏ vào những kỳ đầu tháng hay cuối tháng khi các ngân hàng phải quan tâm tới tỷ lệ dự trữ bắt buộc, lãi suất qua đêm rất ổn định từ tháng 2-2009 đến nay.

Trong thời gian gần đây các ngân hàng bắt đầu cho vay liên ngân hàng ở các kỳ hạn dài hơn, kể cả kỳ hạn 9-12 tháng. Lãi suất ở các kỳ hạn này lên nhẹ vào cuối tháng 5 và tháng 6 nhưng sau đó đã giảm trở lại. Các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam vẫn năng động trên thị trường này. Dường như không có một sự chú ý nào tới báo cáo của Fitch.


Áp lực vốn qua các thời kỳ - Nguồn: TBKTSG

Như vậy, chúng tôi có thể cho rằng báo cáo của Fitch Ratings đã được thị trường phản ánh vài tháng trước, do đó thị trường gần như không bị một tác động đáng chú ý nào từ báo cáo này.

Lê Anh Tuấn, Dan Svensson, Scott Robertson
Bộ phận nghiên cứu Dragon Capital
Thời báo Kinh tế Sài Gòn

13.7.09

Kích cầu, được và mất đến đâu?

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính Quốc gia - Ảnh: Anh Quân.

Kích cầu, được và mất đến đâu? Những rủi ro nào có thể vượt tầm kiểm soát của Chính phủ? Có nên điều chỉnh ưu tiên chính sách? Đó là những vấn đề được nhiều chuyên gia kinh tế nêu lên trong các diễn đàn, hội thảo thời gian gần đây.

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính Quốc gia, mới đây đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với báo giới về vấn đề này.

Kích cầu, được và mất

Thưa ông, có ý kiến cho rằng gói kích cầu của Việt Nam “không giống ai cả”…

Với gói kích cầu của Việt Nam, chúng ta nên lưu ý là chỉ hỗ trợ lãi suất cho vay nhưng không hạ lãi suất tiền gửi. Đấy là vì để tránh bẫy thanh khoản.

Các chuyên gia phân tích là nếu Mỹ, Nhật Bản hạ lãi suất xuống "zero" thì dân chúng vẫn gửi tiền vào ngân hàng như thường, không có gì thay đổi. Bởi vì tài khoản của người ta trong ngân hàng là tài khoản dùng để thanh toán, để trả mua sắm hàng ngày, tiền điện, tiền nước. Chuyện lãi suất là lặt vặt, họ không quan tâm.

Nhưng ở Việt Nam, chúng tôi tính rồi, nếu hạ lãi suất cho vay xuống 5-6% thì buộc phải hạ lãi suất tiền gửi xuống 3%. Thế thì chẳng còn ai gửi tiền. Người ta sẽ vác tiền đi mua vàng, vác tiền đi mua ngoại tệ, vác tiền đi mua chứng khoán, hoặc bất động sản, hoặc vác tiền cho nhau vay để hưởng lãi suất cao hơn.

Bẫy thanh khoản của Việt Nam là ở cái 3% ấy! Nếu người ta không gửi tiền vào ngân hàng thì cả hệ thống ngân hàng sụp đổ rất nhanh chóng.

Thứ hai, việc hỗ trợ lãi suất cho vay cũng có giá trị kích thích về mặt tâm lý. Tức là một anh doanh nghiệp đi vay được ưu đãi 4% lãi suất thì các anh khác không vay cũng tức, cảm giác mình bị thua thiệt. Thế là kích thích họ nghĩ đến chuyện cần phải vay ngân hàng. Mà đã vay là phải nghĩ cách làm ăn, chứ không lấy tiền đâu ra trả. Như vậy là duy trì được sản xuất, phục hồi ản xuất cho các doanh nghiệp.

Về phía các ngân hàng, họ cũng thấy rằng chỉ có cho vay thì họ mới được hưởng 4% đó, chứ không thì không được hưởng. Đồng thời, ngân hàng thương mại cũng nhìn thấy một điều rằng nếu cho vay, doanh nghiệp được phục hồi thì con nợ của họ còn sống, và vẫn có khả năng thu hồi được nợ…

Như vậy là có hai động lực từ phía người vay và phía người cho vay dẫn đến chuyện đẩy tín dụng ra. Mà kích cầu, mục tiêu chủ chốt là phải đẩy được tín dụng ra, làm cho tín dụng tăng trưởng, phá được băng của tín dụng.

Tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam đã giảm liên tục trong 3 tháng liền cuối năm 2008, đến khi có gói kích cầu thì mới bùng trở lại được. Trong khi đó, ở Mỹ, chính phủ rót tiền vào ngân hàng với hy vọng các ngân hàng sẽ mở rộng cho vay. Nhưng các ngân hàng không cho vay mà gửi tiền vào ngân hàng trung ương, vì sợ cho vay thì mất, gửi vào ngân hàng trung ương cho chắc ăn. Cho nên tín dụng vẫn đóng băng như thường.

Biện pháp của Chính phủ mình thì có vẻ không giống ai, nhưng hiệu ứng kích cầu là rất mạnh, nó đẩy được tín dụng ra, tránh được cái bẫy thanh khoản.

Cũng có ý kiến cho rằng việc triển khai gói kích cầu như thời gian qua là khá dàn trải…

Thực ra là khó mà tránh được dàn trải. Dàn trải là nói thế thôi, so với các nước ta còn tập trung hơn nhiều! Chúng ta chỉ bù lãi suất cho một số lĩnh vực. Các nước họ còn dàn trải hơn ta nhiều, nới lỏng tiền tệ tất.

Họ hạ hẳn toàn bộ mặt bằng lãi suất xuống, thì bất động sản được hưởng lãi suất thấp, tiêu dùng rồi thậm chí vay mua chứng khoán cũng được hưởng lãi suất thấp. Vì họ hạ mặt bằng lãi suất xuống zero, hoặc 1-2% cơ mà.

Các chính sách vĩ mô thời gian gần đây đều đưa đến hiệu ứng phụ. Với gói kích cầu thì thế nào, theo ông?

Đương nhiên là một chính sách như vậy bao giờ cũng có hiệu ứng phụ. Chính sách mạnh thì hiệu ứng phụ cũng mạnh.

Ví dụ, doanh nghiệp đổ xô vào vay VND, chứ không vay ngoại tệ. Mà vay VND để mua ngoại tệ. Cho nên cầu ngoại tệ thì tăng lên, cung ngoại tệ thì giảm xuống, thế mới làm cho tình hình ngoại tệ căng thẳng.

Ngân hàng thương mại thừa ngoại tệ, “túi” tiền gửi thì thừa, “túi” để bán thì không có. Đó cũng là một hiệu ứng phụ mà ngân hàng trung ương phải tìm cách khắc phục. Bằng cách là anh có thể sử dụng nghiệp vụ SWAP để biến ngoại tệ tiền gửi thành ngoại tệ có thể bán được.

Hiệu ứng phụ thứ hai là nó làm cho cầu VND tăng lên, cũng có nghĩa là lãi suất tiền gửi tăng lên, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhỏ, tài khoản thanh toán có ít.

Hiệu ứng thứ ba là nó có thể làm cho hệ thống lãi suất méo mó. Nhưng cái đó thì không quan trọng lắm, bởi vì trong thời gian ngắn, 6-7 tháng thì méo mó không thành vấn đề.

Tôi cũng không đồng tình với một số chuyên gia, họ cho rằng chính sách kích cầu của Việt Nam là không cần thiết, hoặc chuyện bù lãi suất 4% là không giống ai…

Tại sao Chính phủ phải nhảy ra để kích cầu? Tại vì dân chúng không còn lòng tin để chi tiêu, doanh nghiệp không còn lòng tin để đầu tư. Nếu không dám chi tiêu, không dám đầu tư thì đưa tiền để Chính phủ chi tiêu, để đầu tư. Thế thì mới kích thích được chứ. Để cho cầu tăng trưởng trở lại, lúc đó mới tạo lòng tin cho chi tiêu, cho đầu tư. Khi ấy thì Chính phủ có thể rút lui.

Không thể tránh hoàn toàn được lạm phát

Lạm phát hiện có phải nguy cơ lớn nhất đối với kinh tế vĩ mô và nó có khả năng vượt kiểm soát không?

Tôi cho rằng nguy cơ đáng kể nhất đối với kinh tế vĩ mô là lạm phát. Rất có thể, trong thời gian tới đây, chúng ta vừa gặp cả lạm phát cầu kéo do nới lỏng tiền tệ, lại vừa lạm phát chi phí đẩy do kinh tế thế giới phục hồi, khiến giá dầu và giá các loại nguyên vật liệu tăng lên.

Tuy nhiên, theo dự đoán của tôi, lạm phát chi phí đẩy còn yếu. Tại vì nói thế thôi chứ kinh tế thế giới phục hồi cũng còn lâu và rất là chậm chạp.

Lạm phát cầu kéo thì rất là rõ. Nhưng lạm phát cầu kéo không thôi thì nó dễ khống chế. Bởi vì cầu kéo làm giá cả tăng lên thì sản lượng cũng tăng theo. Và đến vòng sau thì sản lượng tăng cũng làm giá cả dịu đi một chút.

Rồi cầu thì do cung ứng tiền mà ra. Cho nên ngân hàng trung ương chỉ cần cắt giảm cung ứng tiền, tức là thắt chặt tiền tệ lại một chút để hạn chế cầu kéo.

Còn chi phí đẩy thì giá cả tăng lên nhưng mà sản lượng lại giảm. Ví dụ như ngày xưa, xăng 5.000 đồng/lít thì người ta chạy một ngày 5 chuyến xe bus vào Vinh chẳng hạn. Còn bây giờ, xăng lên tới 15.000 đồng/lít thì người ta chỉ chạy có 3 chuyến. Tức là sản lượng giảm đi, vì vậy làm cho giá cả tăng lên. Hơn nữa, còn có yếu tố quốc tế, cho nên Việt Nam khó khống chế được.

Vậy nên, đề kích cầu phục hồi tăng trưởng vững chắc thì ngay bây giờ phải có tính toán, dự báo những chuyện xu hướng lạm phát có thể xảy ra và có những biện pháp phòng ngừa nó ngay từ bây giờ. Chính phủ đã giao chương trình nghiên cứu chống lạm phát cho một số ngành, trong đó Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia là một kênh. Chúng tôi cũng đang tập hợp thông tin, xây dựng những mô hình phân tích để dự báo về kinh tế vĩ mô nói chung và lạm phát nói riêng để sớm đưa ra giải pháp.

Chúng ta không thể tránh hoàn toàn được lạm phát, nhưng phải kiểm soát nó trong mức tốt nhất có thể. Tôi nghĩ chỉ nên dưới 10% là tốt nhất.

Kích cầu phải đủ đô!

Nhiều tổ chức gần đây khuyến nghị Việt Nam cần xem xét lại quy mô gói kích cầu cho phù hợp với khả năng kinh tế của mình. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Đó là điều mà nhiều chuyên gia quốc tế người ta lo lắng, đặc biệt là ông Tổng giám đốc IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế) tại Việt Nam. Ông ấy rất nhiều lần chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính, chất vấn các chuyên gia trong nước về chuyện này.

Thực ra, người ta hàm ý rằng Việt Nam không vay từ bên ngoài thì làm sao có đủ nguồn lực để kích cầu. Có nghĩa là một gợi ý rằng IMF có thể cho vay, nếu Việt Nam muốn.

Mình thì có mấy nguồn chủ chốt. Nguồn thứ nhất là phát hành trái phiếu Chính phủ. Một nguồn khác là tạm ứng trước các khoản chi của ngân sách cho năm 2010 đưa vào năm 2009. Thứ ba là nguồn chi không hết của năm 2008, thay vì trước đây cắt, thì nay cho vào chi tiêu trong năm 2009.

Và nguồn cuối cùng là có một khoản vay từ nước ngoài, tôi không nhớ chính xác, trị giá vào khoảng 3 tỷ USD, chủ yếu là vay từ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), và một phần từ nguồn “Sáng kiến Chiang Mai” (nguồn hỗ trợ tăng trưởng, kích thích kinh tế của châu Á).

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, một lãnh đạo Bộ Tài chính có nói Việt Nam sẽ không vay nước ngoài để chi tiêu. Sao bây giờ lại tính đến chuyện này?

Lúc đầu, Chính phủ định không vay từ bên ngoài, dù vay từ bên ngoài lúc này dễ chứ không khó, sau đó thì thấy rằng đã làm thì phải “đủ đô”, có một tác dụng kích cầu thực sự. Nếu làm nửa vời, kích cầu nội địa lên không đủ đô, trong khi cầu thế giới đang yếu thì có thể tạo ra sốc.

Cho nên cuối cùng cũng có vay từ nguồn bên ngoài. Mà vay nước ngoài thì dễ, vay 40 năm, ân hạn 10 năm, dạng ODA. Có vẻ như nguồn lực tài chính của các định chế tài chính đang rồi rào, và họ rất thích cho những quốc gia như Việt Nam vay.

Người ta nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng là tương đối mạnh. Người ta nhìn thấy rõ là trong suy thoái, Việt Nam có những cơ hội…

Vừa rồi WB công bố dự kiến cho Việt Nam vay 4 tỷ USD trong hai năm 2009-2010. Đây có phải nguồn tài chính huy động cho gói kích cầu?

Đúng! Tất nhiên những chương trình như vậy phải chuẩn bị từ trước. Nhưng rất hay là tiến độ giải ngân lại đúng vào dịp này.

Trong khi Việt Nam đi vay nước ngoài để tài trợ cho gói kích cầu, có ý kiến cho rằng vì sao không dùng dự trữ ngoại hối?

Tôi nghĩ là Chính phủ cũng có dùng một phần để tài trợ cho ngân sách trong quá trình kích cầu. Nhưng cụ thể nó như thế nào thì nó là bí mật quốc gia.

Dùng dự trữ để can thiệp vào thị trường hối đoái thì không vấn đề gì. Chính phủ và ngân hàng trung ương cam kết rằng sẽ thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái ổn định và áp dụng tất cả các biện pháp, trong đó có cả biện pháp sử dụng dự trữ ngoại tệ để ổn định thị trường ngoại hối.

Trong gói kích cầu, một phần lớn tài chính đến từ phát hành trái phiếu. Vừa rồi, một số đợt đã bán không hết trái phiếu Chính phủ, theo ông là vì sao? Sắp tới nếu bán tiếp thì phải tính toán thế nào?

Có một cái lý do nhiều người dễ nhận thấy đó là lãi suất. Lãi suất vừa qua có vẻ chưa phù hợp với mong muốn của thị trường.

Nhưng còn một lý do khác, đó là lý do kỹ thuật. Đó là Bộ Tài chính thấy rằng chỉ có thể giải ngân được chừng đó, thì chỉ huy động ngần đó thôi. Chứ huy động nhiều quá thì để trong kho rồi cứ phải trả lãi thì chết.

Mà muốn huy động được tương thích với khả năng giải ngân của Bộ Tài chính thì phải có một mức lãi suất nào đó để chỉ cần huy động chừng đó. Chứ chưa chắc đã phải Bộ Tài chính không thể bán hết và phát hành thất bại như báo chí đưa.

Kinh nghiệm đã cho thấy, chúng ta huy động 4.000 tỷ đồng cho giáo dục mà 3 năm mới giải ngân được 30-40%. Mà phải trả lãi cho 4.000 tỷ trong suốt 3 năm trời liền.

Vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách kích cầu!

Với những rủi ro có thể xảy đến, theo ông, đã đến lúc cần điều chỉnh chính sách chưa?

Tôi nghĩ là Chính phủ chắc sẽ chưa có điều chỉnh gói kích cầu mà vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách kích cầu thôi.

Thứ nhất, Chính phủ phải đảm bảo uy tín của mình trước những tuyên bố với cộng đồng doanh nghiệp, với Quốc hội, với dân chúng.

Thứ hai, Chính phủ cũng phải đề phòng xu hướng có thể có những cú sốc nhỏ, giống như động đất, cũng phải có dư chấn.

Ví dụ như nếu kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, trong khi một số nguồn lực tài chính còn bất ổn. Ngay trong quá trình phục hồi vẫn có thể có khủng hoảng. Vì vậy cho nên Chính phủ vẫn phải đề phòng.

4.6.09

Thông tin về hoạt động NH tháng 05/2009

Thông tin về hoạt động NH tháng 05/2009

I. Hoạt động của NHNN

1. Ban hành văn bản quy phạm pháp luật về tiền tệ và hoạt động ngân hàng:

Trong tháng 5/2009, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) đã ban hành các văn bản quy phạm pháp luật sau:

- Thông tư số 08/2009/TT-NHNN ngày 28/4/2009 Hướng dẫn về mạng lưới hoạt động của tổ chức tài chính quy mô nhỏ.

- Thông tư số 09/2009/TT-NHNN ngày 05/5/2009 quy định chi tiết thi hành việc hỗ trợ lãi suất vay vốn mua máy móc, thiết bị, vật tư phục vụ sản xuất nông nghiệp và vật liệu xây dựng nhà ở khu vực nông thôn.

- Thông tư số 10/2009/TT-NHNN ngày 08/5/2009 sửa đổi bổ sung Quyết định số 45/2007/QĐ-NHNN ngày 17 tháng 12 năm 2007 của Thống đốc NHNN về độ mật của từng loại tài liệu, vật mang bí mật nhà nước trong ngành Ngân hàng.

- Thông tư số 11/2009/TT-NHNN ngày 27/5/2009 sửa đổi khoản 1 điều 7 Thông tư số 03/2009/TT-NHNN ngày 02/3/2009 quy định về việc cho vay có bảo đảm bằng cầm cố giấy tờ có giá của NHNN đối với các ngân hàng.

- Thông tư số 12/2009/TT-NHNN ngày 28/5/2009 hướng dẫn một số nội dung trong cho vay có bảo lãnh của Ngân hàng Phát triển Việt Nam theo quy chế bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng thương mại ban hành theo Quyết định số 14/2009/QĐ-TTg và Quyết định số 60/2009/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

2. Điều hành chính sách tiền tệ, tín dụng:

Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, trong tháng 5/2009, NHNN tiếp tục tập trung chỉ đạo trong toàn Ngành triển khai có hiệu quả các chính sách tiền tệ, tín dụng nhằm góp phần ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng và bảo đảm an sinh xã hội. Cụ thể:

- Tiếp tục hoàn thiện các văn bản hướng dẫn thực hiện các quyết định của Thủ tướng Chính phủ về hỗ trợ lãi suất;

- Tiếp tục theo dõi, giám sát chặt chẽ tình hình cho vay hỗ trợ lãi suất và kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc phát sinh. Đồng thời, chỉ đạo các đơn vị tăng cường công tác thông tin, tuyên truyền về các chính sách hỗ trợ lãi suất để doanh nghiệp, người dân hiểu rõ các cơ chế, thủ tục cho vay hỗ trợ lãi suất;

- Trên cơ sở theo dõi sát diễn biến kinh tế vĩ mô, trong tháng 5/2009, NHNN tiếp tục giữ nguyên lãi suất cơ bản bằng Đồng Việt nam (7%), lãi suất tái cấp vốn (7%), lãi suất tái chiết khấu (5%) như tháng 4/2008; điều hành linh hoạt nghiệp vụ thị trường mở để điều tiết vốn khả dụng của các tổ chức tín dụng và giữ ổn định lãi suất trên thị trường liên ngân hàng.

- Thực hiện đồng bộ các giải pháp để chấn chỉnh hoạt động ngoại hối, ổn định thị trường tiền tệ:

+ NHNN đã đề nghị các ngân hàng thương mại nhà nước tiếp tục hạ lãi suất huy động và cho vay ngoại tệ; phối hợp với NHNN đẩy mạnh công tác thông tin tuyên truyền để dân chúng hiểu và tránh tâm lý kỳ vọng vào việc phá giá mạnh VND; phối hợp với các cơ quan chức năng trong việc kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động ngoại hối.

+ Triển khai đồng bộ các giải pháp can thiệp để ổn định thị trường ngoại tệ như: (i) Hoán đổi ngoại tệ trên quy mô lớn với các ngân hàng thương mại nhằm tạo thêm nguồn vốn VND để các ngân hàng thương mại cấp tín dụng cho nền kinh tế theo các chương trình hỗ trợ lãi suất của Chính phủ; (ii) Điều hoà ngoại tệ trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng để hỗ trợ thanh khoản cho các ngân hàng thương mại; (iii) Tăng cường kiểm tra hoạt động mua bán ngoại tệ của các ngân hàng thương mại, xử lý nghiêm các hành vi cố tình mua bán ngoại tệ vượt trần qui định; (iv) Phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chức năng triển khai quyết liệt công tác kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động mua bán ngoại tệ trái phép, chống đầu cơ; (v) Sử dụng các biện pháp chống găm giữ ngoại tệ và hút nguồn ngoại tệ vào ngân hàng; (vi) Đề nghị một số doanh nghiệp nhập khẩu lớn chuyển từ mua ngoại tệ sang vay bằng ngoại tệ để góp phần làm giảm căng thẳng về cầu ngoại tệ trên thị trường.

- Ban hành Chỉ thị yêu cầu: (i) Các tổ chức tín dụng thực hiện các giải pháp kinh doanh phù hợp, chủ động ngăn ngừa rủi ro kinh doanh; điều hành và quản trị vốn kinh doanh có hiệu quả, an toàn, đúng qui định; ấn định lãi suất huy động vốn phù hợp với cung - cầu vốn, qui định của NHNN và có mức chênh lệch hợp lý so với lãi suất cho vay; kiểm soát chặt chẽ chất lượng tín dụng đi đôi với mở rộng tín dụng có hiệu quả, tập trung cho vay hỗ trợ lãi suất và tập trung vốn cho các nhu cầu sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, khu vực nông thôn và các dự án lớn, trọng điểm của Nhà nước; (ii) Các đơn vị thuộc NHNN triển khai linh hoạt, có hiệu quả các biện pháp điều hành các công cụ chính sách tiền tệ, tín dụng, tỷ giá, nhằm ổn định lãi suất, tỷ giá, kiểm soát tốc độ tăng tổng phương tiện thanh toán, tín dụng ở mức hợp lý; tăng cường công tác thanh tra, giám sát, với trọng tâm là việc thực hiện các qui định về cho vay hỗ trợ lãi suất, quản lý ngoại hối.

- Nhằm tháo gỡ những vướng mắc trong quan hệ tín dụng giữa doanh nghiệp với ngân hàng, NHNN đã phối hợp với Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) tổ chức Hội nghị đối thoại với các doanh nghiệp tại Hà Nội và thành phố Hồ Chí Minh. Tại Hội nghị, NHNN đã thông báo về tình hình cải cách thủ tục hành chính của NHNN nhằm tạo thuận lợi cho quan hệ tín dụng và dịch vụ giữa doanh nghiệp và ngân hàng; tình hình thực hiện cơ chế hỗ trợ lãi suất và giải đáp các kiến nghị của doanh nghiệp và ngân hàng thương mại. Các kiến nghị của doanh nghiệp tập trung vào một số vấn đề như: hỗ trợ lãi suất, xử lý nợ, bảo lãnh vay vốn, quản lý ngoại hối và cải cách thủ tục hành chính trong ngành Ngân hàng.

- Thực hiện Quyết định số 167/2008/QĐ-TTg ngày 12/12/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc hỗ trợ người nghèo về nhà ở, Ngân hàng Nhà nước đã phối hợp với Bộ Xây dựng ban hành Thông tư liên tịch hướng dẫn chi tiết về chính sách hỗ trợ người nghèo về nhà ở.

3. Củng cố, phát triển hệ thống các tổ chức tín dụng:

- Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, NHNN đã báo cáo Thường trực Chính phủ về tình hình hoạt động và cấp phép mở chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

- Hiện nay, hoạt động của một số công ty Tài chính, công ty Cho thuê Tài chính còn một số tồn tại. Để đảm bảo an toàn trong hoạt động của các tổ chức tín dụng phi ngân hàng, NHNN đã ban hành văn bản chấn chỉnh hoạt động của loại hình tổ chức tín dụng này; đồng thời, yêu cầu các đơn vị liên quan thuộc NHNN hoàn thiện hệ thống văn bản liên quan và kiểm tra, giám sát chặt chẽ hoạt động của các tổ chức tín dụng này.

4. Hoàn thiện cơ cấu tổ chức của Ngân hàng Nhà nước:

NHNN đã phối hợp với Văn phòng Chính phủ hoàn thiện và trình Thủ tướng Chính phủ dự thảo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ qui định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Cơ quan Thanh tra, giám sát ngân hàng trực thuộc NHNN.

NHNN đang khẩn trương xây dựng Đề án đổi mới hoạt động báo cáo thống kê trong ngành Ngân hàng theo hướng chuyển đổi mô hình tổ chức hệ thống báo cáo thống kê từ phân tán sang tập trung và xây dựng lại các chỉ tiêu báo cáo theo hướng khoa học, tinh gọn, không trùng lắp nhằm nâng cao hiệu quả công tác dự báo, thống kê tiền tệ.

Nhằm nâng cao năng lực, chất lượng, hiệu quả hoạt động của NHNN Việt Nam theo hướng một Ngân hàng Trung ương hiện đại, thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ, Thống đốc NHNN đã ký với Ngân hàng Thế giới (WB) Hiệp định tài trợ dự án Hệ thống thông tin quản lý và hiện đại hóa ngân hàng trị giá 60 triệu USD.

5. Hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ngân hàng:

Trong tháng 5/2009, Thống đốc NHNN đã tham dự Hội nghị thường niên Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB) lần thứ 42 tại Bali, Indonesia. Hội nghị tập trung thảo luận về triển vọng kinh tế khu vực trong bối cảnh tác động của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu, phản ứng chính sách của các nước và các sáng kiến, chương trình của ADB hỗ trợ các nước thành viên đang phát triển vượt qua những thách thức hiện tại. Sau Hội nghị, Thống đốc NHNN đã báo cáo và kiến nghị Thủ tướng Chính phủ: (i) Giao NHNN làm việc với ADB về khả năng Việt Nam tiếp cận thể thức vay mới để hỗ trợ cho các giải pháp kích cầu của Chính phủ; (ii) Cho phép NHNN tiếp cận Ngân hàng Hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC) để xem xét các thể thức cho vay đối với các ngân hàng thương mại hỗ trợ đối phó với khủng hoảng kinh tế toàn cầu; (iii) Giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư chủ trì phối hợp với Bộ Tài chính, NHNN và các Bộ, Ngành hữu quan khẩn trương rà soát tiến độ chuẩn bị các dự án/chương trình vay vốn theo danh mục tài trợ dự kiến của ADB giai đoạn 2009-2010 và đánh giá khả năng triển khai sớm trong 2009 để báo cáo Thủ tướng Chính phủ quyết định các dự án đề nghị ADB cấp trước vốn; làm việc với Cơ quan Phát triển Pháp (AFD), JBIC về các thể thức vay hỗ trợ các gói kích cầu của Chính phủ; (iv) Giao Ngân hàng Nhà nước phối hợp với Bộ Tài chính tiếp tục đàm phán về các vấn đề kỹ thuật còn tồn tại của chương trình hỗ trợ, hợp tác quốc tế Đa phương hóa sáng kiến Chiềng Mai (CMIM); phối hợp với các cơ quan liên quan nghiên cứu, góp ý cho dự thảo Hiệp định về CMIM.

II. Một số hoạt động khác

1. Trong tháng 05/2009, Thống đốc NHNN đã làm việc với Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng Sông Cửu Long và tiếp xã giao Chủ tịch Taiwan Cooperative Bank. Phó Thống đốc Nguyễn Văn Bình làm việc với Đoàn giám sát Dự án Tài chính nông thôn của WB

2. Ngày 29/5/2009 tại Hà Nội, NHNN tổ chức hội nghị triển khai nhiệm vụ Ngân hàng 6 tháng cuối năm 2009 dưới sự chủ trì của Thống đốc Nguyễn Văn Giàu.

III. Một số tình hình tiền tệ, tín dụng trong tháng 05/2009

1- Lãi suất:

Đối với lãi suất VND: So với cuối tháng trước, mặt bằng lãi suất huy động có xu hướng tăng từ 0,15-0,65%/năm, hiện lãi suất huy động VND phổ biến ở mức 7,3-8,88%/năm. Lãi suất cho vay giữ ổn định ở mức 8,5-10,5%/năm. Mức lãi suất cho vay sau khi được hỗ trợ lãi suất phổ biến ở mức 4,5-6%/năm.

Đối với lãi suất USD: So với cuối tháng trước mặt bằng lãi suất USD có xu hướng giảm, mức giảm từ 0,2-0,5%/năm đối với lãi suất huy động, từ 0,3-0,6%/năm đối với lãi suất cho vay. Hiện lãi suất huy động phổ biến ở mức 1,24-2,65%/năm và lãi suất cho vay phổ biến ở mức 3-7%/năm.

2- Tỷ giá:

Trong tháng 5/2009, tình hình ngoại tệ trên thị trường có xu hướng ổn định. Ngày 01/6, tỷ giá USD/VND bình quân trên thị trường liên ngân hàng ở mức 16.938, tăng 0,018% so với cuối tháng trước, tỷ giá giao dịch của các tổ chức tín dụng luôn kịch trần cho phép.

3- Tổng phương tiện thanh toán:

Tổng phương tiện thanh toán tháng 05/2009 ước tăng 3,19% so với tháng trước và tăng 14,55% so với cuối năm trước; trong đó, tiền mặt lưu thông ngoài hệ thống ngân hàng ước giảm 0,11% so với tháng trước và tăng 19,6% so với cuối năm trước.

4- Huy động vốn:

Tổng số dư tiền gửi của khách hàng tại các tổ chức tín dụng tháng 05/2009 ước tăng 3,87% so với cuối tháng trước và tăng 13,64% so với cuối năm trước; trong đó, số dư tiền gửi VND tăng 4,6% và số dư tiền gửi ngoại tệ tăng 1,33% so với cuối tháng trước.

5- Cho vay nền kinh tế:

Đầu tư cho nền kinh tế tháng 05/2009 ước tăng 4,2% so với cuối tháng trước và tăng 14,91% so với cuối năm trước; trong đó, đầu tư bằng VND ước tăng 4,96% và đầu tư bằng ngoại tệ ước tăng 0,68% so với cuối tháng trước.

SBV

9.5.09

Stress test và tình hình 19 ngân hàng

Cổ phiếu ngân hàng Wells Fargo và Key Corp hạ hơn 7,7%. Cổ phiếu AT&T và Verizon, hai công ty lớn trong ngành viễn thông, hạ ít nhất 2,9% sau khi JP Morgan hạ xếp hạng cổ phiếu các hãng này bởi triển vọng tăng trưởng thuê bao và áp lực cạnh tranh giá cả ngày một lớn.

Cổ phiếu Symantec, hãng sản xuất phần mềm an ninh lớn nhất thế giới, hạ 15% sau khi công bố mức doanh số kỳ vọng không đạt theo tính toán của các chuyên gia.

Chỉ số S&P 500 cho đến nay tăng 34% từ mức thấp nhất trong 12 năm thiết lập vào ngày 09/03, hạ 1,3% xuống mức 907,39 điểm tại thị trường New York trong phiên giao dịch ngày 07/05. Chỉ số công nghiệp Dow Jones hạ 102,43 điểm tương đương 1,2% xuống mức 8.409,85 điểm. Cứ 3 cổ phiếu mất điểm thì có 1 cổ phiếu lên điểm.

Chỉ số cổ phiếu của 75 công ty công nghệ Mỹ hạ 3,2% trong phiên giao dịch ngày 07/05. Chỉ số này năm 2009 tăng mạnh nhất so với chỉ số 10 nhóm ngành khác, mức tăng lên tới hơn 15%. Năm 2009, chỉ số S&P 500 tăng chưa đến 0,5%.

Phiên giao dịch ngày 06/05, chỉ số S&P 500 tăng điểm lên mức cao nhất trong 4 tháng sau khi nhà đầu tư dự đoán các ngân hàng sẽ không cần nhiều vốn như dự đoán của thị trường.

Vào đầu phiên giao dịch hôm nay, thị trường tăng điểm sau khi Bộ trưởng Tài chính Mỹ tuyên bố kết quả thanh tra ngân hàng sẽ có thể khiến thị trường an lòng và chính phủ công bố báo cáo cho thấy thời kỳ tệ hại nhất của làn sóng sa thải đã qua.

Danh sách 19 ngân hàng và số vốn cần tăng


Giá dầu thô tăng trước dự đoán thời gian tệ hại nhất của suy thoái kinh tế đã qua, nhu cầu năng lượng sẽ hồi phục.

Giá dầu thô giao tháng 6/2009 tăng 37 cent tương đương 0,7% lên mức 56,71USD/thùng tại thị trường New York. Đây là mức giá đóng cửa cao nhất của giá dầu tính từ ngày 14/11/2008.

Trong phiên giao dịch, đã có lúc giá dầu hạ xuống mức 55,46USD/thùng do thị trường chứng khoán mất điểm. Giá dầu tăng 6,6% trong tuần này và từ đầu năm đến nay tăng 27%.

Hôm nay thị trường Mỹ sẽ chờ đợi kết quả kinh doanh quý 1/2009 của Toyota và Berkshire Hathaway. Bộ Lao động Mỹ công bố báo cáo về thị trường việc làm.

Ngọc Diệp

Theo Bloomberg,CNN

31.3.09

How Banks Can Exploit Geithner's Plan

Stock Advisor

Since 2002, Motley Fool Stock Advisor has outperformed the S&P 500 by 34 percentage points. Join David and Tom Gardner in Stock Advisor now for 33% off the regular price, or try it FREE for 30 days!

I want Treasury Secretary Tim Geithner's plan to save the banks to work. I want banks to jettison all the crap on their balance sheets and allow taxpayers to profit. Everyone does. It'd be the ultimate victory during an economic collapse where nothing has gone right.

But I'm also a realist. There are several reasons to think that Geithner's plan to form a public-private investment partnership will not only fail, but will become a massive wealth transfer from taxpayers to banks. When the plan first came out last week, I didn't think such a transfer was likely. With a simple example, I now realize otherwise.

No buyers, no sellers
The gap between what banks like Wells Fargo (NYSE: WFC) or Bank of America (NYSE: BAC) are willing to sell for and what investors are willing to pay is gigantic. If AIG (NYSE: AIG)
wants to sell an asset for $0.80 on the dollar, yet private investors are only willing to pay $0.40 on the dollar, we get nowhere.

To solve this dilemma, Geithner's plan provides 85% nonrecourse financing to private investors. The Treasury then splits the equity 50/50. So, to buy an asset for $100, private investors only have to risk about $8. While that seems like an unfair risk for taxpayers, private investors theoretically won't overpay, because they can lose every dime they put in. In all likelihood, that'll prove to be the case most of the time.

Unless …
Yet with a little creativity, it's easy to see how banks could sell assets at extravagant prices -- perhaps 100 cents on the dollar -- while dumping most of the risk on taxpayers. Private investors who participate in this plan, you see, have sole authority to set the bid price on assets. As the Treasury's recent press release states:

The highest bid from the private sector … [will] define the total price paid by the private investors and the Treasury.

Hence, banks have a huge incentive to get someone to bid exorbitant prices. Who is that "someone"? Well, that's where things could get shady.

According to the Treasury, investors who meet a few simple criteria pre-qualify to participate in the plan. For example, pre-qualified investors must have:

  • Capacity to raise at least $500 million of private capital.
  • Experience investing in eligible assets, including through performance track records.
  • A minimum of $10 billion of assets under management.
  • Headquarters in the United States.

All pretty simple. Oodles and oodles of hedge funds and private equity funds fit those requirements.

Trouble is, you can draw a straight line from banks to some of those seemingly "independent" private investors. Hedge funds in particular have extraordinarily tight relationships with investment banks like JPMorgan Chase (NYSE: JPM), Goldman Sachs (NYSE: GS), or Morgan Stanley (NYSE: MS) that often play ball on the same court.

In fact, private investment partnerships can actually be owned by banks themselves. For example, Lehman Brothers invested in, provided management for, and supplied office space to a hedge fund called R3 Capital Partners last year. It then sold $4.5 billion worth of assets to R3 at undisclosed prices. For whatever reason, Lehman essentially sold assets to itself through an "independent" entity.

Welcome to the ingenuity of Wall Street -- throw in a little creativity and fancy structuring, and suddenly the distinction between banks selling assets and private investors buying assets is blurred.

Here's a simple example of how this could derail the success of Geithner's plan:

  • Bank A has a toxic asset no sane investor would pay more than $30 for.
  • Bank A gets Private Investor B -- an entity with ties to Bank A itself -- to participate in Geithner's plan and pay full price for the asset -- $100, in this case.
  • Bank A receives $100. Expect something similar to Citigroup's (NYSE: C) famous "We're saved! Everything is fine!" memo to follow.

In due time, the asset's true value -- $30 -- is realized. Since Private Investor B only put up a sliver of equity, it loses its $7 and walks away. No biggie.

Now connect the dots:

  • Bank A sold an asset worth $30 for $100 -- it made a $70 windfall.
  • Private Investor B -- with ties to Bank A -- loses only $7 when those assets go bad. Bank A happily repays $7 to Private Investor B for the trouble. Everybody wins, except for …

… the taxpayer
Since government-issued nonrecourse leverage is involved, banks can simply overbid for assets via "independent" investors and funnel most of the risk onto taxpayers. Heads they win, tails you lose.

Like I've said before, 2+2 is never going to equal 100, no matter how many bells and whistles you slap on these bailouts. If the goal is to recapitalize banks in an efficient manner, there are other sensible ways to do it. Giving banks the ability to write their own ticket isn't one of them.

For related Foolishness:

6.2.09

Châu Âu đưa ra một loạt quyết định quan trọng về lãi suất

Ngân hàng Trung ương châu Âu không thay đổi lãi suất cơ bản đồng euro còn Ngân hàng Trung ương Anh hạ lãi suất xuống mức thấp kỷ lục là 1%.

Ngoài ra, để ngăn kinh tế Anh tiếp tục đi xuống, chính phủ Anh đã cho phép Ngân hàng Trung ương Anh mua trái phiếu và thương phiếu với giá trị khoảng 73 tỷ USD.
Từ đầu tháng 10/2008 cho đến nay, Ngân hàng Trung ương châu Âu đã duy trì mùa lãi suất cơ bản đồng euro là 2% sau 4 lần giảm lãi suất trước đó.
Tỷ lệ lạm phát tháng 1/2009 đã chững lại. Quỹ tiền tệ quốc tế dự đoán kinh tế khu vực châu Âu có thể suy giảm 2% trong năm 2009.
Chủ tịch Ngân hàng Trung ương châu Âu mới đây thừa nhận rằng thị trường tài chính đang kỳ vọng Ngân hàng này sẽ hạ lãi suất xuống mức 1,5% trong tháng 3/2009.
Tháng 3/2009, Ngân hàng Trung ương châu Âu sẽ công bố dự báo về tăng trưởng kinh tế của 16 nước thuộc khu vực đồng tiền chung châu Âu. Dự kiến, số liệu này sẽ cho thấy kinh tế châu Âu suy giảm mạnh từ tháng 12/2008.
Một số chuyên gia kinh tế khác cho rằng Ngân hàng Trung ương châu Âu nên hạ lãi suất mạnh tay hơn để bù cho việc tín dụng thắt chặt đối với các công ty châu Âu.
Ngọc Diệp
Theo Bloomberg

31.1.09

Lãi suất cho vay còn 8% một năm

Từ ngày 1/2, lãi suất cho vay của các ngân hàng giảm xuống còn 8% một năm, sau khi Ngân hàng Nhà nước điều chỉnh lãi suất cơ bản về 7% hồi trước Tết.

Ngân hàng Đầu tư phát triển VN (BIDV) trở thành nhà băng đầu tiên công bố điều chỉnh giảm lãi suất đồng nội tệ đầu tiên trong năm 2009. Lần giảm gần đây nhất được BIDV công bố vào ngày 4/12/2008.

Lần này, lãi suất cho vay VND của BIDV tối đa là 10,5% một năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn thời hạn đến 3 tháng là 8% một năm đối với các khoản vay xuất khẩu có hợp đồng xuất khẩu trực tiếp và khách hàng cam kết bán lại ngoại tệ tương ứng cho BIDV.

Lãi suất cho vay ngắn hạn với thời hạn đến 3 tháng là 9% một năm. Trường hợp thời hạn vay trên 3 tháng, lãi suất áp dụng trên 9% đến tối đa 10% một năm.

Lãi suất cho vay trung dài hạn VND của BIDV từ nay bằng lãi suất tiết kiệm 12 tháng trả sau cộng với phí tối thiểu là 3% một năm nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản.

Các chi nhánh BIDV được phép chủ động áp dụng lãi suất cho vay phù hợp đối với vạy cầm cố giấy tờ có giá do BIDV phát hành, nhưng không vượt quá 150% lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố từng thời kỳ.

Từ tháng 10 năm ngoái đến nay, ngân hàng này đã 7 lần hạ lãi suất cho vay.

Phan Anh

24.12.08

“Chính sách tiền tệ là thành công lớn nhất của năm 2008”

“Khuyết điểm 4 phần, thành công 6 phần”, Tiến sĩ Nguyễn Đức Kiên, Ủy viên Ủy ban Kinh tế của Quốc hội, trả lời khi được VnEconomy đề nghị đưa ra một đánh giá cô đọng nhất về chính sách điều hành kinh tế - xã hội năm 2008.

Vậy thì theo ông, thành công nhất trong các thành công là gì?

Đó là chính sách tiền tệ. Do tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng cuối 2007 và những tháng đầu năm 2008 tăng cao nên đến cuối tháng 4, đầu tháng 5/2008 một loạt ngân hàng mất tính thanh khoản.

Dưới sự chỉ đạo của Chính phủ, chính sách tiền tệ thông qua điều hành lãi suất tiền gửi và lãi suất dự trữ bắt buộc kịp thời đã giúp ngân hàng vượt qua được thời kỳ sóng gió đó. Đến bây giờ cơ bản các ngân hàng hoạt động ổn định, lãi suất huy động và lãi suất cho vay của hệ thống ngân hàng thương mại cổ phần đã dần trở lại gần như cuối năm 2007.

Chính sách tất nhiên chưa thể nói là cực chuẩn nhưng việc điều hành đã đúng quy luật của kinh tế thị trường, đó là thành công.

Nền tài chính quốc gia không sụp đổ, bảo đảm cho sự ổn định về kinh tế, chính trị và xã hội. Đó là mối quan hệ nhân quả của chính sách tiền tệ đúng. Đó cũng là cơ sở để khẳng định năm 2008 chúng ta đã thành công nhiều hơn thất bại.

Thử tưởng tượng xem, nếu chúng ta không làm được việc đó thì không lường được toàn bộ nền kinh tế những tháng đầu năm 2008 sẽ như thế nào và bây giờ nền kinh tế và xã hội nước ta đi đến đâu?

Vậy ông nghĩ thế nào khi nhiều ý kiến, nhất là của doanh nghiệp phê phán chính sách tiền tệ đã “phanh” gấp quá, thắt chặt quá, dẫn đến thiệt hại cho doanh nghiệp?

Đó có thể là những nhận xét theo cảm tính từ kinh nghiệm của một số ít, chứ chưa nhìn sâu vào bản chất của vấn đề và chưa có tính đại diện cao cho cả nền kinh tế.

Cuối tháng 10/ 2008, trong cuộc giao trực tuyến trên VnEconomy, một số bạn đọc cũng “kêu” với tôi là doanh nghiệp đã bị thiệt hại do biến động tỷ giá. Câu trả lời của tôi là những doanh nghiệp mà người điều hành chưa “đủ tầm” thì thường bị thiệt hại nhiều vì cùng một điều kiện tác động, nếu xử lý bằng cảm tính, bằng tâm lý “bầy đàn” mà bỏ quên yếu tố khoa học trong các vấn đề kinh tế thì thiệt hại cho doanh nghiệp bao giờ cũng lớn.

Khi đánh giá về chính sách tiền tệ phải đứng ở góc độ của toàn dân chứ không thể chỉ đứng trên quan điểm của doanh nghiệp.

Đã hoạt động trong nền kinh tế thị trường thì doanh nghiệp không thể đòi hỏi ngân hàng - cũng là doanh nghiệp - phải phục vụ mình vô điều kiện. Cũng nên đặt câu hỏi, tại sao các doanh nghiệp liên doanh, các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài không kêu về vấn đề vay vốn ngân hàng mà chỉ có doanh nghiệp nhỏ và vừa kêu. Đấy là vì bản thân doanh nghiệp có 2, 3 đồng thì tiêu 10 đồng, tức là phụ thuộc quá lớn vào ngân hàng. Điều này dẫn đến nền kinh tế phát triển nóng.

Khuyết điểm lớn nhất: Chính sách phát triển kinh tế nóng

“Kinh tế phát triển nóng” phải chăng xuất phát từ những yếu kém trong “4 phần” mà ông đã phân định ở trên?

Tôi xin chia sẻ nhận xét này. Khuyết điểm lớn nhất trong điều hành năm 2008 là đặt ra chính sách phát triển kinh tế nóng.

Tháng 11/2007 tuy đã có tiếng nói cảnh báo nhưng Chính phủ vẫn đặt chỉ tiêu tăng trưởng GDP từ 8,5- 9%, tạo việc làm cho 1,7 triệu lao động, xuất khẩu vẫn tăng…

Việc đặt chỉ tiêu như vậy đã tạo ra hoàn cảnh khó khăn hơn cho nền kinh tế trong 8 tháng đầu năm 2008. Cùng bị tác động mặt bằng giá kinh tế thế giới thì nền kinh tế nước ta khó khăn hơn do chính sách vĩ mô không dự báo được xu hướngcũng như bối cảnh kinh tế khu vực và thế giới.

Thứ hai nữa là Chính phủ đã không đánh giá kịp thời tác động của khủng khoảng kinh tế thế giới đến Việt Nam khi nhận định ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới không ảnh hưởng đến Việt Nam, trong khi độ mở của nền kinh tế nước ta lớn, doanh số xuất khẩu + nhập khẩu gấp 1,6 lần GDP.

Kinh nghiệm của cuộc khủng khoảng tài chính khu vực năm 1997 đã chỉ ra nền kinh tế Việt Nam luôn có độ trễ so với khu vực và quốc tế do chúng ta đang chuyển đổi. Đánh giá này góp phần làm lệch biện pháp điều hành dẫn đến khó khăn hơn cho nền kinh tế.

Xét về góc độ lập chính sách cũng phản ánh việc chúng ta chưa có kinh nghiệm trong việc phát triển các loại thị trường trong kinh tế thị trường. Ví dụ như đối với thị trường bất động sản. Vì muốn mở rộng thị trường bất động sản nên trong Luật Nhà ở quy định là chỉ cần 20% vốn của dự án là được khởi công và huy động các nguồn vốn khác (nói cụ thể là có quyền bán nhà dự án khi vừa khởi công). Song điều đó chỉ phù hợp trong điều kiện nền kinh tế phát triển bình thường.

Còn trong nền kinh tế khó khăn, vì sức ép đáp ứng 80% vốn còn lại còn lại cho doanh nghiệp đã đẩy nhanh tổng phương tiện thanh toán ra quá nhiều và quá nhanh, dẫn đến đẩy lạm phát lên. Đến nay khi cầu giảm thì doanh nghiệp gặp khó khăn trong việc bán hàng, ngân hàng gặp khó khăn trong thu hồi nợ làm nợ xấu của ngân hàng tăng cao hơn.

Chứ nếu doanh nghiệp đã có 6 đồng, chỉ đi vay 4 đồng thì vấn đề không căng thẳng như bây giờ.

Đúng, vẫn không dễ thuyết phục

Nhưng không lẽ tại thời điểm đó, không có bất cứ ý kiến nào phản biện những nhận định chưa chính xác đó sao? Còn vai trò giám sát của Quốc hội nữa mà, thưa ông?

Báo cáo thẩm tra của Ủy ban Kinh tế vào tháng 11/2007 cũng đã nói rõ mặt bằng giá 2007 sẽ tạo áp lực tăng giá và có thể gây tăng chỉ số giá tiêu dùng rất lớn trong năm 2008.

Tại báo cáo trình bày trong kỳ họp thứ 3 (tháng 5/ 2008), Ủy ban đã đề nghị xem xét để không chỉ điều chỉnh giảm tốc độ tăng trưởng GDP và chỉ số lạm phát, vì các chỉ tiêu còn lại của nền kinh tế có liên quan mật thiết với nhau.

Ví dụ như về chỉ tiêu tạo việc làm mới của năm 2008, theo quan điểm của Ủy ban thì con số 1,7 triệu việc làm là không thể thực hiện được trong 2009. Không thể đầu tư giảm, xuất khẩu giảm mà việc làm lại tăng, đó là nghịch lý.

Song lúc đó mình tiếng nói của Ủy ban không thể nào thuyết phục được cả ba bộ Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Công thương, ba người phải hơn một người. Và Quốc hội vẫn quyết, còn Ủy ban thì không thể bác.

Nhưng sau đó thực tế đã chứng minh ý kiến của Ủy ban Kinh tế là đúng?

Trong khoa học kinh tế thì chưa chắc đa số đã đúng. Nhưng hiện nay Quốc hội vẫn hoạt động theo đa số, biểu quyết thì phải theo số đông. Khi nghe lần lượt bốn người phát biểu thì ba người bày tỏ đồng ý, một người bày tỏ sự nghi ngại thì các đại biểu Quốc hội làm sao mà theo một ông được, phải theo ba ông chứ.

Có lý do các đại biểu Quốc hội còn thiếu thông tin không, thưa ông?

Nếu thiếu thông tin là do các đại biểu chưa thực hiện hết quyền của mình, vì một trong năm quyền của đại biểu là quyền được thông tin. Muốn phát biểu vấn đề gì đó thì đại biểu cần tìm đủ thông tin để nói. Còn nếu không thì rất dễ gây áp lực không cần thiết đến anh em làm công tác điều hành.

Ví dụ như việc đánh giá về tập đoàn kinh tế. Ủy ban Kinh tế chưa hề được đại biểu nào yêu cầu cung cấp thông tin về tập đoàn kinh tế. Nhưng mới chỉ qua một số thông tin trên các phương tiện thông tin đại chúng đã có rất nhiều ý kiến phê phán nặng nề, gay gắt dễ gây những ấn tượng không chính xác.

Vì thông tin từ những bài báo sẽ cung cấp những góc nhìn khác nhau, đa chiều về một vấn đề, nhưng không có tính định hướng. Những người sử dụng thông tin đó phải kết hợp nhiều nguồn thông tin khác nhau để phân tích, đối chiếu trước khi sử dụng.

Tuy nhiên, để tìm được sự đồng thuận của gần 500 đại biểu Quốc hội là cực kỳ khó. Vì thế chúng tôi đã chọn cách làm việc nhanh hơn. Đó là đổi mới phương pháp làm việc của Ủy ban với các bộ.

Đổi mới như thế nào, xin ông nói cụ thể hơn?

Tăng cường tính tranh luận, trao đổi của các ủy ban của Quốc hội với Chính phủ và các bộ, nâng cao tính chuyên nghiệp của hoạt động thẩm tra để thực hiện tốt hơn quyền giám sát.

Trước mỗi vấn đề mới, Ủy ban Kinh tế đều chủ động bày tỏ quan điểm và kiến nghị giải pháp để Ủy ban Thường vụ Quốc hội thảo luận và trình bộ Chính trị. Kết luận của Bộ Chính trị về 8 nhóm giải pháp phát triển kinh tế - xã hội năm 2008 được hình thành trên cơ sở đó, tức là trên cơ sở đề xuất của Chính phủ, Ủy ban Kinh tế và Ủy ban Tài chính – Ngân sách phản biện, bổ sung..

Khi có 8 nhóm giải pháp thì điều hành phải linh hoạt. Tháng 5/2008, khi tính thanh khoản của các ngân hàng khó khăn, Ủy ban Kinh tế đã có văn bản gửi Thường trực Chính phủ về vấn đề này. Tất nhiên các cơ quan điều hành đã nhìn thấy việc đó, sẽ thực hiện, nhưng khi có tác động của các cơ quan Quốc hội thì việc xử lý nhanh hơn và rốt ráo hơn.

Năm 2008, lần đầu tiên Ủy ban Kinh tế chủ động đăng ký gặp Thường trực Ban bí thư và Chủ tịch, các phó chủ tịch Quốc hội để báo cáo (cả trực tiếp và cả bằng văn bản) tình hình kinh tế và đề xuất giải pháp mỗi khi nền kinh tế gặp khó khăn lớn cần tháo gỡ.

Mặc dù vậy, khuyết điểm lớn nhất của chúng tôi trong năm qua là nhiều vấn đề cảm thấy mình đúng mà vẫn không thuyết phục được mọi người. Qua đó chúng tôi tự nhận thấy các thành viên Ủy ban phải tiếp tục nghiên cứu để khi đề xuất các vấn đề mới đưa ra được các luận cứ khoa học có tính thuyết phục hơn. Cần tận dụng chất xám của các chuyên gia trong và ngoài nước khi nghiên cứu các vấn đề kinh tế - xã hội trước khi trình cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định.

Chúng tôi đã có thỏa thuận hợp tác với Viện Khoa học xã hội Việt Nam, trong năm nay, chúng tôi sẽ ký tiếp thỏa thuận với Kiểm toán Nhà nước và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam để phát huy được chất xám của các nhà khoa học, các doanh nhân trong xử lý các vấn đề quan trọng.

Như vậy có thể nói đã có cọ xát, có tranh luận, có phản biện, nhưng đúng chưa hẳn đã dễ thuyết phục, phải không ạ?

Chính xác. Chắc là tại tính thuyết phục của chúng tôi chưa cao.

Đã đến lúc cơ cấu lại nền kinh tế!

Chuyện cũ đã khá dài. Xin phép ông chuyển sang chuyện mới - chuyện của 2009. Liệu với cách đổi mới phương pháp làm việc như đã nói trên thì Ủy ban Kinh tế và các cơ quan tham mưu của Chính phủ có đạt được sự thống nhất về nhận định tình hình kinh tế năm 2009?

Riêng về nhận định thì hai bên đều thống nhất là năm 2009 tình hình kinh tế của nước ta sẽ khó khăn hơn 2008 rất nhiều.

Theo quan điểm riêng của Ủy ban Kinh tế thì khó nhất là gì?

Khó nhất là nhận thức đó chưa được thể hiện được bằng hành động kịp thời. Nhận thức đúng nghĩa là trong năm 2009 phải chấp nhận các doanh nghiệp phá sản, chấp nhận sự mua bán, sáp nhập doanh nghiệp.

Như vậy, các cơ quan quản lý Nhà nước phải có trách nhiệm “đỡ” cho những người thất nghiệp để họ có thể tái tạo việc làm. Đồng thời phải xem xét lại hệ thống văn bản pháp luật hiện hành về phá sản để tạo thuận tiện cho việc đăng ký phá sản gắn với trách nhiệm của người chủ doanh nghiệp.

Muốn “đỡ” thì phải có chính sách, nhưng đến giờ này chưa có những nghiên cứu, tổng kết và đề xuất chính sách loại này, chưa thấy ai tiến hành thống kê trong số 400 ngàn doanh nghiệp đã có bao nhiêu phải đóng cửa và số lượng người lao động mất việc từ tháng 9/2008 đến nay là bao nhiêu?

Bộ Lao động và Thương binh - Xã hội cũng chỉ vừa mới có văn bản yêu cầu các tỉnh thống kê số lao động thất nghiệp. Còn quy định bảo hiểm thất nghiệp thì vừa mới ra đời.

Chính sách thì luôn có độ trễ. Từ lúc ban hành đến khi có kết quả có khi mất vài năm. Muốn rút ngắn thời gian thì phải có tác động và chi phí tất yếu từ phía cơ quan quản lý nhà nước. Ví dụ cho quỹ bảo hiểm thất nghiệp vay tiền để hỗ trợ ngay cho những người thất nghiệp.

Đã là nhận thức đúng thì phải chuyển thành hành động. Hành động chậm thì thời gian hồi phục nền kinh tế kéo dài ra. Nó giống như khi chúng ta bị thương mà băng bó ngay thì đỡ chảy máu. Đằng này băng bó chậm thì sau này vừa phục hồi vết thương vừa phải tiếp máu.

Với nhìn nhận chủ quan của ông thì trong gần 400 ngàn doanh nghiệp hiện có bao nhiêu doanh nghiệp đang "ngắc ngoải"?

Có cơ sở để khẳng định nhiều doanh nghiệp đang ngắc ngoải, nhưng không đủ căn cứ để đưa ra con số cụ thể là bao nhiêu phần trăm. Vì từ trước đến nay chưa có số liệu thống kê chính thức.

Vậy nên chỉ có thể nhìn gián tiếp qua dư nợ tín dụng của hệ thống ngân hàng. Vì doanh nghiệp phá sản đi kèm theo nợ xấu của ngân hàng. Hoặc là thông qua cơ quan thuế để xem có bao nhiêu doanh nghiệp trong năm 2008 đã không thực hiện được nghĩa vụ nộp thuế.

Những khó khăn trên đang là thách thức lớn của khả năng hồi phục nền kinh tế, thưa ông?

Tôi nghĩ sự hồi phục của nền kinh tế Việt Nam năm 2009 sẽ phụ thuộc vào 3 yếu tố.

Thứ nhất, yếu tố ngoại. Nếu thị trường Mỹ, EU và đông bắc Á hồi phục nhanh , các gói cứu trợ của Mỹ, EU, Trung Quốc hoạt động tốt thì khoảng quý 3 năm 2009, tăng trưởng của các nước đó dương thì nền kinh tế của chúng ta vào những tháng đầu 2010 sẽ hồi phục.

Thứ hai là từ nội sinh. Chúng ta nói nhiều là nước ta dân số đông, thị trường tiềm năng, lợi thế để chào mời đầu tư nhưng lại chưa chú ý đúng mức đến việc khai thác thị trường này. Vấn đề sắp tới là biện pháp của Chính phủ khai thác thị trường này như thế nào. Nếu làm tốt thì quý 3 năm 2009 thì nền kinh tế sẽ bắt đầu hồi phục và giữ được đà tăng trưởng.

Yếu tố thứ ba có tính quyết định là tầm nhìn, cách nhìn của Chính phủ. Nếu nhân dịp này cơ cấu lại toàn bộ nền kinh tế, thì có thể tốc độ phục hồi sẽ chậm lại, không phải là quý 3/2009 nhưng phát triển sẽ nhanh hơn rất nhiều vào năm 2010.

Như vậy, theo ông đã đến lúc cần phải cơ cấu lại nền kinh tế? Ông có thể nói rõ là nên cơ cấu theo hướng nào?

Việc này lẽ ra phải làm trước khi gia nhập WTO để đón sự kiện này nhưng chúng ta chưa làm kịp. Song bối cảnh mới hiện nay đặt ra yêu cầu cấp bách phải cơ cấu lại nền kinh tế.

Nhìn lại kinh tế nước ta sau 22 năm đổi mới, có thể chia làm 2 giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất là cơ cấu nền kinh tế theo hướng thay thế nhập khẩu từ năm 1986 đến 1997. Đây là thời kỳ hệ thống xã hội chủ nghĩa tan rã, nền kinh tế nước ta chuyển đổi từ kế hoạch hóa tập trung sang kinh tế thị trường.

Giai đoạn thứ 2 từ 1998 đến 2008, tôi tạm gọi như vậy, là giai đoạn cơ cấu nền kinh tế hướng tới xuất khẩu. Sau khủng khoảng tài chính khu vực nền kinh tế nước ta cũng gặp khó khăn, cuối 1999 cũng rơi vào tình trạng trì trệ. Trong giai đoạn này chúng ta tận dụng ưu thế về lao động, giá nhân công rẻ để thu hút đầu tư, sản xuất hàng xuất khẩu nhằm tạo lợi thế cạnh tranh trong việc chiếm lĩnh thị trường.

Đến năm 2000 trở đi dần đẩy nhanh được tốc độ phát triển kinh tế. Và bây giờ từ 2009, theo tôi, phải chuyển đổi sang phát triển bền vững.

Nên cơ cấu theo hướng kết hợp hài hòa giữa sử dụng nguồn lực lao động để giải quyết áp lực lao động với công nghệ. Trong điều kiện hiện nay phải cơ cấu theo hướng hàng hóa Việt Nam phải đi vào thị trường ngách, chứ không thể đi vào thị trường chính ngạch được. Nếu không phát triển thị trường ngách thì còn lâu nữa nền kinh tế mới phát triển được như chúng ta mong muốn.

Bởi, hiện nay trên thế giới thị trường đã định hình, các tập đoàn đa quốc gia phần lớn đã phân chia xong thị trường.

Theo tôi, Việt Nam phải đi vào thị trường ngách có chất lượng cao, ví dụ đi vào sản xuất sản phẩm nông sản cực sạch, sạch tuyệt đối. Con cá chỉ nuôi bằng nước sông không cần có trọng lượng đến 1 kg nhưng tỷ lệ mỡ và các tiêu chuẩn khác phải cực chuẩn để bán cho các đối tượng đặc biệt. Rau sạch được trồng bằng tay, không bón phân, chứ không phải canh tác đại trà cả mấy chục ha, phun thuốc trừ sâu ầm ầm. Cách làm đó thì không thể xuất khẩu được được vì nhiều nước khác họ đã làm giỏi hơn nước mình nhiều.

Trong công nghiệp nên chọn những sản phẩm, những hướng đi tận dụng được lợi thế sẵn có, đừng đi theo hướng khép kín, nghĩa là để đóng một con tàu chúng ta tự sản xuất từ thép, động cơ thủy đến nghi khí hàng hải… Mà phải học kinh nghiệm của Ấn Độ trong phát triển công nghệ phần mềm, họ không thể sản xuất những con chip cho máy tính rẻ và chất lượng cao như Intel nên họ đã chọn hướng đi là phát triển phần mềm ứng dụng trên nền của các nước tiên tiến. Và họ đã thành công.

Thế nên việc cơ cấu lại nền kinh tế lúc này là hết sức cần thiết rồi.

Đã có động thái nào cho thấy việc cơ cấu lại được bắt đầu chưa, thưa ông?

Chúng ta đã nhận thức được vấn đề nên bắt đầu rà soát lại các dự án khuyến khích đầu tư, xây dựng luật công nghệ cao, chú ý đến vấn đề bảo vệ môi trường… Tuy nhiên, theo tôi vẫn chưa đủ và cần đẩy nhanh tốc độ. Cần sử dụng gói 17.000 tỷ đồng kích cầu sản xuất và tiêu dùng để đẩy nhanh việc chuyển đổi này. Chính phủ sẽ thảo luận cụ thể vào kỳ họp cuối tháng 12/2008.

Cá nhân tôi hy vọng vào một động lực mới để đẩy nhanh quá trình ổn định và phát triển trong năm 2009.

17.12.08

Không nên bán chứng khoán ra lúc này


Ông Dominic Scriven, Tổng giám đốc Dragon Capital.

Trong tháng 12, vẫn phổ biến hiện tượng nhà đầu tư nước ngoài bán ròng. Và mới đây, IFC (Công ty Tài chính quốc tế) tuyên bố bán 16 triệu cổ phiếu Sacombank.

Ông Dominic Scriven, Tổng giám đốc Công ty Quản lý quỹ đầu tư Dragon Capital, đã có cuộc trao đổi với báo giới về những hiện tượng kể trên.

Một vài quỹ lên kế hoạch ra quỹ mới vài tháng tới, ông nhìn nhận như thế nào?

Chúc may mắn. Từ ba đến sáu tháng gần đây, tôi đi nước ngoài cũng nhiều và thấy các nhà đầu tư tài chính nước ngoài gần như bị “liệt” rồi. Cho nên có khi họ có thời gian để nghe về Việt Nam, nhưng họ đang gặp khó khăn.

Như vụ Bernald L. Madoff lừa 50 tỷ USD, khiến HSBC mất 1 tỷ USD, đạo diễn Steven Spielberg mất vài chục triệu USD… Những chuyện như thế mà bung ra hàng ngày, thì dù người ta muốn đầu tư vào Việt Nam cũng là một quyết định khó.

Có tin rằng Dragon Capital liên tục bán trái phiếu lấy tiền mặt. Việc đó có tiếp tục nữa không?

Tin đó không chính xác. Dragon có một quỹ đầu tư trái phiếu lập gần một năm nay, có lúc bán ra, lúc mua vào. Người bán ra trái phiếu gần đây là các ngân hàng Việt Nam.

Tôi nghĩ người thắng trái phiếu năm nay là những ngân hàng đã mua trái phiếu từ tháng 5 - 6 lúc mà nhà đầu tư nước ngoài bán với lãi suất mười mấy - hai chục phần trăm. Cuối năm lãi suất xuống dưới mười phần trăm, họ bán ra lấy lợi nhuận có thể là động cơ chính, hoặc có thể bán ra mua lại.

Cá nhân tôi mới cách đây một tháng đầu tư lớn vào trái phiếu. Trái phiếu thú vị hơn cổ phiếu. Rủi ro có thể cân đối khoa học hơn, thu nhập không lớn nhất mà ổn định.

Nhà đầu tư nước ngoài gần đây liên tục bán ra cổ phiếu. Dragon Capital có nằm trong xu hướng đó không?

Phải nói là hầu như các nhà đầu tư nước ngoài đều là những người không có bán ra đủ và đúng thời điểm.

Về mặt chuyên môn, VN-Index 1.100 đúng ra phải bán ra cực kỳ nhiều, vậy mà họ không bán ra nhiều, thậm chí mua vào. Còn VN-Index 300, nói bán ra cũng không nên, mà có khi cân nhắc mua vào. Mình luôn tránh việc mua cao bán thấp.

Khi thị trường xuống mình nắm được cơ cấu danh mục, nắm được công ty mình tham gia, cố gắng tránh rủi ro bằng việc bán những khoản đầu tư thấy có vấn đề, đặc biệt không phải về lợi nhuận mà về quản trị. Tôi muốn nói tới những công ty mô hình quản trị không rõ ràng. Sang năm những công ty có mô hình quản trị không phù hợp càng khó khăn hơn.

IFC công bố bán 16 triệu cổ phiếu Sacombank, cũng là cổ đông chiến lược của Sacombank, ông nghĩ gì?

IFC bắt đầu bán ra từ hôm nay (17/12) với hơn 3% khối lượng là khá lớn. Tôi nghĩ IFC là một nhà đầu tư mà nhiệm vụ đầu tư tiên phong trong những nước và ngành mà người khác chưa muốn đầu tư. Hai ngân hàng họ tham gia là ACB và STB giờ thuộc hàng mạnh trên thị trường.

Có thể tiêu chí tham gia không còn phù hợp nên họ rút lui?

Bán ra trong lúc này là nên không? Giá STB hiện là 19.000 đồng/cổ phiếu (ngày 16/12), rồi có thể xuống 16.000 đồng/cổ phiếu, rồi 14.000 đồng/cổ phiếu… Bán ra? Tôi không nghĩ là nên nếu là vốn của tôi.

Vậy sắp tới đợt IPO Vietinbank lớn nhất trong năm, ông có chuẩn bị tiền đầu tư không?

Vietinbank với giá khởi điểm 20.000 đồng/cổ phiếu, thì tổng giá trị ngân hàng khoảng 1,7 tỷ USD. Trong khi giá đấu giá lúc trước của Vietcombank gần 9 tỷ USD. Giá trị doanh nghiệp của Vietcombank bây giờ cỡ 2 tỷ USD. Vì vậy, thời điểm này giá Vietinbank đưa ra cũng phù hợp.

Vietinbank được về mặt giá trị doanh nghiệp, định hướng; nhưng mô hình quản trị chưa chắc được. Người tham gia cổ phần là những người với 4%, trong khi một cổ đông khác chiếm 96%.

Tiếng nói của 4% ở đâu? Doanh nghiệp nhà nước thì có mô hình quản trị của doanh nghiệp nhà nước. Đã là công ty đại chúng thì theo mô hình quản trị của đại chúng. Còn bán 10% cho cổ đông nước ngoài? Không dễ. Vietcombank kiếm mãi mà không thấy. Đa phần các ngân hàng trên thế giới đều bị quốc hữu hoá rồi, không thể đầu tư nhiều.

Ngày đấu giá là ngày Giáng sinh. Dù mê Việt Nam đến mức nào cũng không thể bỏ ngày Giáng sinh được. Tôi đồ chừng sự tham gia của nhà đầu tư nước ngoài không nhiều. Tình hình của các tổ chức trên toàn cầu cũng không may mắn lắm, nên sự quan tâm của họ, sự tham gia của họ... đều ở mức tương đối thấp.

Hồng Sương (SGTT)

14.12.08

Vì sao Vietinbank chọn tháng 12-2008 để IPO?

Từ góc độ ngân hàng có thể thấy hy vọng vào sự thành công của đợt IPO là khá lớn khi Vietinbank đưa ra giá khởi điểm thấp hơn nhiều so với giá khởi điểm của Vietcombank.

Với mức xuất phát điểm được Vietinbank nhận định là hợp lý đó, cán bộ công nhân viên ngân hàng, theo quy định của Nhà nước, sẽ có cơ hội sở hữu cổ phiếu của doanh nghiệp với giá bằng 60% giá đấu thành công. Đây sẽ là một động lực đáng kể giúp Vietinbank củng cố, phát triển nguồn nhân lực ngân hàng.

Năm ngoái, sau khi cổ phần hóa, người lao động ở Bảo Việt, Vietcombank cũng đã được mua cổ phiếu ưu đãi, giảm 40% so với giá đấu bình quân. Tuy nhiên, sự trượt dốc của thị trường chứng khoán đã biến các cổ phiếu ưu đãi thành cổ phiếu “ngược đãi”.

Ở Bảo Việt và Vietcombank người lao động mua cổ phiếu ưu đãi với giá tương ứng khoảng 43.200 đồng (giá đấu bình quân 72.000 đồng/cổ phiếu) và 64.200 đồng (giá đấu bình quân 107.000 đồng/cổ phiếu).

Hiện nay giá giao dịch của Bảo Việt trên thị trường OTC chừng 20.000-21.000 đồng/cổ phiếu, của Vietcombank 32.000-33.000 đồng/cổ phiếu. Nghĩa là cổ phiếu ưu đãi cũng “bay hơi” 50% giá trị.

Nhìn từ bình diện quốc gia, việc tiến hành IPO Vietinbank lúc này là thể hiện quyết tâm của Chính phủ đẩy nhanh việc cổ phần hóa doanh nghiệp quốc doanh như đã cam kết khi đàm phán gia nhập WTO.

Đồng thời việc IPO Vietinbank cũng là một minh chứng cho thấy Việt Nam tiếp tục lộ trình mở cửa thị trường tài chính. Điều đó quan trọng hơn nhiều việc IPO Vietinbank giá thấp hay cao.

Nó phát đi thông điệp ngay cả trong những thời điểm cam go của thị trường vốn, Việt Nam vẫn không ngừng cải cách khu vực kinh tế nhà nước, nhất là khối ngân hàng.

Ngoài ra IPO Vietinbank cũng hé mở sự hiện diện của những quan điểm khác nhau xung quanh việc xác định giá trị doanh nghiệp cổ phần hóa. Việc chưa thay đổi phương thức cổ phần hóa đã từng tiến hành với những doanh nghiệp tầm cỡ đi trước là biểu hiện vẫn còn đâu đó các ý kiến về thất thoát tài sản nhà nước. Song, trong lòng phương thức đó đã manh nha những mầm mống tiến bộ khi đưa ra một mức giá khởi điểm đấu giá sát hơn với tình hình thực tế.

Hai năm qua cổ phần hóa các doanh nghiệp lớn đã đi được một chặng đường, thành công có, tồn tại có. IPO Vietinbank là sự tiếp nối chặng đường đã đi với chặng đường còn lại còn nhiều chông gai trước khi cải cách doanh nghiệp quốc doanh hoàn tất.

Dù thành công ở mức độ nào, kết quả IPO Vietinbank sẽ nhắc nhở Nhà nước cần cân nhắc lại cơ chế cổ phần hóa những tổng công ty, tập đoàn với việc xác định giá trị doanh nghiệp một cách tin cậy, xác đáng hơn.

Những phương cách định giá doanh nghiệp khác nhau sẽ đưa đến những mức giá cổ phiếu khác nhau, tác động không nhỏ đến quá trình phát triển của thị trường chứng khoán nói riêng, thị trường tài chính nói chung.

Trong các cuộc hội thảo gần đây, các nhà tài chính quốc tế đã không ít lần đề cập đến một cơ chế xác định giá trị doanh nghiệp một cách công khai minh bạch. Đó là cơ chế đấu thầu cạnh tranh.

Đấu giá một khối lượng cổ phiếu hạn hẹp trong khi đã giữ nguyên giá trị doanh nghiệp, phát hành thêm cổ phiếu tăng vốn, rồi lấy giá đấu thành công để áp giá thương lượng với đối tác chiến lược, e rằng không còn thích hợp trong bối cảnh hiện nay.

Vì sao không thể tiến hành một quy trình đơn giản và minh bạch hơn như công bố thông tin IPO doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các nhà đầu tư tổ chức tham gia và bỏ giá mua cổ phần doanh nghiệp đó như đấu thầu?

Theo Hải Lý
TBKTSG