Showing posts with label 5. KINH TẾ. Show all posts
Showing posts with label 5. KINH TẾ. Show all posts

3.5.11

Bao giờ FED ngừng “nới lỏng định lượng”?

Cả vàng lẫn cổ phiếu đều tăng mạnh khi FED “nới lỏng định lượng”, khi nó kết thúc, chưa biết tình hình sẽ ra sao.

Mới hơn một năm trước, Chủ tịch FED Ben Bernanke ra điều trần trước Quốc hội để giải thích kế hoạch chấm dứt chính sách tiền tệ siêu lỏng mà cơ quan này đã sử dụng để chống lại suy thoái 2008-09.

Vào cái ngày 25/03 ấy vẫn chưa rõ bao giờ Bernanke sẽ điều trần vì Quốc hội phải nghỉ họp do tuyết rơi kỷ lục, nhưng đất đã bắt đầu rung chuyển dưới chân ông.

Đầu tiên là câu chuyện sửng sốt về việc số liệu về tài chính công của Hy Lạp không chính xác và cùng với cuộc khủng hoảng nợ ở Châu Âu khi ấy, nó đã làm niềm tin thị trường trên toàn thế giới chao đảo. Kinh tế Mỹ dù vào mùa xuân năm 2010 có vẻ rất hứa hẹn nhưng quá trình hồi phục đang chậm lại.

Dù cho mùa hè năm ngoái ngập trong những cuộc tranh luận công khai xem nên tăng lãi suất ngắn hạn hay nên bán một phần trong số 1.000 tỷ đôla tài sản FED đã mua để hỗ trợ nền kinh tế, và xem nên làm thế nào để giảm bớt số tiền mặt dư thừa trong hệ thống ngân hàng, nhưng hành động của FED lại đi theo hướng ngược lại.

Tháng 8 năm ngoái FED đột ngột chuyển hướng và tiếp tục nới lỏng chính sách, tới tháng 11, FED bắt đầu đợt mua tài sản lần thứ hai trị giá 600 tỷ đôla. Những người có thành kiến với FED và nghi ngờ tác dụng của hình thức can thiệp này đặt cho nó cái tên QE2.

Giậm chân tại chỗ?

QE2 sẽ kết thúc vào tháng 6 tới, có lẽ sau đó FED cũng sẽ không mua thêm tài sản nữa. Sau một năm đầy ắp những sự kiện, FED thấy mình lại quay trở về chỗ cũ.

Kinh tế có vẻ như đang tiến triển nhưng vẫn ì ạch như một chiếc xe trong cảnh tắc đường. Phe “diều hâu” trong ủy ban thị trường mở liên bang lo ngại lạm phát sẽ lên cao do giá hàng hóa cơ bản tăng và muốn tái thảo luận “chiến lược thoái lui”.

Raghuram Rajan, GS Trường Kinh doanh Booth thuộc ĐH Chicago và là cựu Kinh tế trưởng tại IMF, nghi ngờ QE2 và nói tất cả những gì FED có thể làm là chuẩn bị tăng dần lãi suất. “Vấn đề với chính sách tiền tệ là bạn bị trói buộc vào những gì mình đã nói và kỳ vọng mà bạn đã tạo ra,” ông nói.

Jan Hatzius, kinh tế trưởng về Hoa Kỳ tại Goldman Sachs tai New York, thận trọng hơn. “Tôi nghĩ họ nên kết thúc QE2 đúng hạn và sau đó đơn giản là ngồi yên,” ông nói. “Tôi vẫn nghĩ sắp tới lạm phát sẽ thấp.”

Bao giờ FED tiếp bước NHTW Châu Âu (ECB) và tăng lãi suất sẽ ảnh hưởng đến tất cả mọi thứ từ việc đồng đôla mạnh lên tới sự bền vững của phục hồi kinh tế Mỹ.

QE2 khiến gần như mọi thị trường tài sản để tăng mạnh nên sau khi QE2 kết thúc, chưa biết tình hình sẽ ra sao. Nửa còn lại của năm 2011 có lẽ sẽ chẳng mấy suôn sẻ khi FED vừa chuẩn bị “thoái lui”, vừa cố tránh để thị trường phát hiện “chuẩn bị” tức là sắp “thoái lui”.


Nếu biết vì sao tháng 11 năm ngoái FED tiến hành QE2 thì cũng hiểu vì sao ngay cả những thành viên “bồ câu” hơn trong FOMC hiện cũng không ủng hộ tiếp tục mua thêm tài sản.

“Khi số việc làm mới tăng chậm lại, người ta lo ngại về sự bền vững của quá trình phục hồi. Cùng lúc đó, lạm phát, dù đã ở mức rất thấp, nhưng vẫn tiếp tục giảm,” Chủ tịch Bernanke giải thích trong buổi điều trần trước Quốc hội tháng trước.

Rủi ro giảm phát không đáng kể nghĩa là chẳng có lý do gì để tiếp tục mua tài sản, mặc dù nếu một cú sốc nữa có chặn đà phục hồi và đẩy lạm phát giảm tiếp, đa số thành viên FOMC sẽ nghĩ lại.

Cú sốc lớn nhất gần đây là việc giá dầu vược mốc 100 đôla/thùng và hiện nay có lẽ điều này chỉ làm chậm lại chứ không chặn được đà phục hồi kinh tế. Giá hàng hóa cơ bản cao hơn sẽ không “tác động nhiều tới phục hồi kinh tế” trừ khi chúng tăng tiếp, Phó Chủ tịch FED Janet Yellen nói.

Lạm phát giảm tiếp là điều rất quan trọng. FED triển khai QE2 không phải vì thất nghiệp cao và lạm phát thấp dưới mức mục tiêu “2% hoặc thấp hơn một chút.” FED hành động vì thất nghiệp không cải thiện và lạm phát ngày càng xa mức mục tiêu, khiến nền kinh tế có nguy cơ trượt vào vòng xoáy giảm giá và biến Mỹ trở thành Nhật Bản thứ hai.

Lãi suất và lạm phát

Mọi chuyện nay đã khác. Thất nghiệp đã giảm gần 1% trong các tháng gần đây xuống 8,8% và tăng trưởng việc làm ở mức chấp nhận được. Lạm phát lõi, tức loại trừ giá năng lượng và thực phẩm, chạm đáy tháng 12 năm ngoái ở mức 0,7% so với cùng kỳ năm ngoái và kể từ đó đã tăng lên khoảng 1%.


Một loạt các chỉ số thứ cấp, từ số đơn bảo hiểm thất nghiệp, số đơn đặt hàng công nghiệp tới tăng trưởng tiêu dùng, cho thấy kinh tế đang tốt lên dù cho mấy tuần gần đây tình hình lại xấu đi.

“Ngày càng có nhiều bằng chứng cho thấy tiêu dùng và đầu tư đã bắt đầu tăng trưởng bền vững,” ông Bernanke nói hồi tháng 3. “Nguy cơ chấm dứt phục hồi đã bị đẩy lui và nguy cơ giảm phát là không đáng kể.”

Tuy vậy, trọng tâm tranh luận tại FOMC trong những tháng tới sẽ là bao giờ “thoái lui” và “thoái lui” như thế nào. Một mặt, “thoái lui” bắt đầu ở thời điểm FED ngừng mua trái phiếu dài hạn, vì Bộ Tài chính sẽ tiếp tục phát hành thêm. Tỷ lệ nắm giữ của NHTW sẽ giảm xuống cùng với tầm ảnh hưởng của nó đối với lãi suất dài hạn.

Nhưng vấn đề thực sự lại nằm ở chuyện bao giờ tăng lãi suất. Hiện nay, lãi suất ngắn hạn mục tiêu là 0-0,25% nhưng FED cũng có khoảng 1.000 tỷ đôla tài sản dài hạn trên bảng cân đối kế toán, sau khi QE2 kết thúc, con số đó sẽ còn nhiều hơn.

FED quan niệm cứ mua thêm 200 tỷ đôla tài sản là tương đương với giảm lãi suất cơ bản đi 0,25%. Thế nên thực tế lãi suất hiện nay là khoảng -2%. Câu hỏi đặt ra là bao giờ họ tăng nó lên.

Khi đưa ra đánh giá này, công cụ cơ bản các quan chức FED sẽ sử dụng là mối quan hệ giữa lãi suất và số công suất dư thừa; và lạm phát cách mức mục tiêu bao xa.

Tất nhiên là còn tùy vào hoàn cảnh và quyết sách có thể được ban hành dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng các ví dụ đơn giản mà FED sử dụng cho thấy sẽ cần thắt chặt chính sách khi thất nghiệp chạm mức 8% và lạm phát lõi chạm 1,5%, cũng có thể sớm hơn.

Các nhà hoạch định chính sách chỉ khác nhau ở chỗ không phải ai cũng có quan điểm giống nhau về thời điểm nền kinh tế chạm những mốc này.

Nhưng cũng có những lo ngại khác. Thứ nhất là giá hàng hóa cơ bản tăng có thể đẩy chỉ số CPI toàn phần (headline CPI), tức tính cả thực phẩm và năng lượng, vượt mức 2,7% (so với cùng kỳ năm trước).

Một số người thuộc phe “diều hâu” nghĩ FOMC nên hành động dựa ngay trên lạm phát toàn phần. Nhưng toàn bộ ủy ban luôn sẵn sàng hành động nếu kỳ vọng lạm phát tăng lên.

Minh Tuấn
Theo Economist

Bao giờ Fed ngừng “nới lỏng định lượng”? (phần 2)

Có thể Fed sẽ tăng lãi suất trước rồi sau đó mới bán ra trái phiếu chính phủ.

Một câu hỏi khác là liệu số lao động “chưa” tìm được việc có cao như tỷ lệ thất nghiệp cho thấy hay một số lao động hiện “không thể” tìm được việc. Ít nhất, một số thành viên FOMC trong các cuộc phỏng vấn với Financial Times vẫn thận trọng về số lao động “chưa” tìm được việc.

“Tôi cảm thấy tự tin hơn khi tư duy về khoảng trống sản lượng dựa trên lạm phát lõi. Nếu thấy lạm phát lõi tăng, đó là dấu hiệu cho thấy khoảng trống sản lượng đang hẹp lại,” Narayana Kocherlakota, Chủ tịch Fed Minneapolis, nói.

Lập luận cuối cùng của phái “diều hâu” là giữ lãi suất thấp quá lâu là đang khuyến khích đầu cơ tài chính và nhào nặn một cuộc khủng hoảng trong tương lai.

“Tôi lo các thành viên thị trường sẽ dựa dẫm vào sự hào phóng của chúng ta,” Chủ tịch Fed Dallas Richard Fiser nói. Ông cũng lưu ý rằng các hành động của Fed đã bóp méo các quy tắc thông thường trong đó kỳ đáo hạn khác nhau thì lợi suất trái phiếu cũng khác nhau. “Chúng ta đã cố tình bẻ quẹo đường cong lợi suất, tự vẽ đường cong này và đặt luôn cho nó các mức giá.”

Tuy vậy, hiện ủy ban vẫn nghiêng về phía “bồ câu” và cho đến nay họ vẫn miễn cưỡng thảo luận về chính sách “thoái lui” của Fed. Một nguyên nhân là họ biết thị trường và giới kinh tế thích chủ đề này đến đâu.

Chiến lược “thoái lui” với các nhà kinh tế học tiền tệ cũng tương đương với việc chọn một đội bóng chày “toàn sao” hay bàn xem Kate Middleton khi kết hôn với Thái tử Anh: lựa chọn nhiều và phức tạp đến nỗi ai cũng có thể lên tiếng. Cuộc tranh luận năm ngoái về các chi tiết của kế hoạch “thoái lui” khiến người ta lầm tưởng nó đã bắt đầu rồi.

Bán ra trái phiếu thế nào?

Khác biệt thứ hai là Fed hiện thặng dư cả trái phiếu chính phủ và các chứng khoán bảo đảm bằng tài sản. Bảng cân đối kế toán càng lớn, các quan chức Fed càng có động cơ đánh giá lại việc bán tài sản.

Chủ tịch Fed Philadelphia Charles Plosser đã gợi ý gắn việc bán tài sản với nâng lãi suất. Ví dụ như, ông đề xuất, Fed có thể cam kết bán 125 tỷ đôla tài sản mỗi lần tăng lãi suất thêm 0,25%.

Dù vậy, khi mà QE2 đã sắp hết thì lục lại các kế hoạch “thoái lui” cũng là tự nhiên.

Phần lớn các quan chức Fed vẫn ủng hộ lộ trình đã thảo luận năm ngoái: thứ nhất, rút lại cam kết giữ lãi suất cực thấp trong một “giai đoạn dài”, sau đó rút số dự trữ trong hệ thống ngân hàng, tăng lãi suất ngắn hạn và chỉ sau đó mới bắt đầu bán danh mục tài sản. Ông Kocherlakota cho rằng thắt chặt chính sách sử dụng lãi suất và giảm bảng cân đối kế toán có thể tiến hành độc lập với nhau.

Tuy vậy, việc có thêm 600 tỷ đôla trái phiếu chính phủ nhờ đợt mua tài sản hiện nay có thể làm mọi chuyện khác đi một chút. Thứ nhất, bán hết tài sản tích trữ do QE sẽ mất nhiều thời gian hơn. Vi dụ, nếu mỗi quý bán 100 tỷ đôla thì sẽ mất cả năm rưỡi nữa mới bán hết được 600 tỷ đôla.

Do đó có lẽ nên thu hẹp bảng cân đối kế toán sớm và nhanh hơn. Một cách là không tái đầu tư các khoản thanh toán sớm cho danh mục đầu tư các chứng khoán bảo đảm bằng tài sản của Fed (tức số tiền nhận được khi ai đó thanh toán sớm khoản cho vay thế chấp mua nhà của mình).

Nếu Fed có thể thuyết phục thị trường rằng làm vậy không phải là dấu hiệu cho thấy cơ quan này sẽ sớm tăng lãi suất, FOMC có lẽ cũng muốn sớm đi theo cách này ngay sau khi hoàn thành QE2.

Cuộc thảo luận mới sẽ không bắt đầu trước khi FED chấm dứt nới lỏng vào cuối tháng 6, nhưng có lẽ nó cũng sẽ căng thẳng chẳng kém gì năm ngoái. Như Chủ tịch Fed Dallas, ông Fisher, nói về nới lỏng định lượng: “Nó rất có tác dụng nhưng câu hỏi đặt ra là nó sẽ kéo dài đến bao giờ.”

Cách “ra tín hiệu” mới của Fed

“Nếu bạn không giải thích, ai đó sẽ giải thích cho bạn.”

Cú sốc đối với thị trường trong mùa hè năm ngoái khi Fed chuyển từ chiến lược “thoái lui” sang tiếp tục nới lỏng chính sách tiền tệ càng nghiêm trọng hơn vì Fed ra tín hiệu không rõ ràng.

Cả hai phe “diều hâu” và “bồ câu” trong FOMC nêu lên những cách hiểu khác nhau, khiến giá trái phiếu chính phủ biến động mạnh.

Sự im lặng của Fed sau khi thông báo đợt nới lỏng định lượng thứ hai hồi tháng 11 năm ngoái giúp những người phản đối chính sách này, từ các thành viên bảo thủ trong Đảng Cộng hòa tới các chính phủ nước ngoài, được dịp tô vẽ chương trình mua tài sản là rủi ro, vô trách nhiệm và không cần thiết.

Nay Fed đã có câu trả lời cho vấn đề này. Từ cuối tháng 4, Chủ tịch Ben Bernanke đã nói chuyện trực tiếp với giới truyền thông. FOMC cập nhật dự báo kinh tế của mình trong 4/8 cuộc họp thường niên; tiếp theo đó sẽ là những cuộc họp báo như các NHTW khác thường làm.

“Điều đó giúp tăng tính minh bạch,” Chủ tịch Fed Dallas, ông Richard Fiser, người từng tham gia một nhóm chuyên trách về vấn đề này trực thuộc FOMC, nói. “Nếu không giải thích điều gì đó thì rồi ai đó sẽ giải thích giúp bạn.”

Các quan chức Fed hy vọng họp báo sẽ thu hút được sự chú ý tới các dự báo của họ và cho thấy các quyết sách đều có liên quan tới những gì họ kỳ vọng ở nền kinh tế.

Với Fed, đây không chỉ là thay đổi cách ra tín hiệu. Nhờ thu hút sự chú ý tới các dự báo định lượng của mình, Fed đang tiến dần tới một chính sách minh bạch và hệ thống hơn. Chủ tịch Ben Bernanke từ lâu đã chủ trương cách tiếp cận này.

Các cuộc họp báo sẽ khiến các cách thức ra tín hiệu của Fed khác đi một chút. Các biên bản tóm tắt sẽ không quan trọng như trước; và khi đã được trực tiếp hỏi chuyện ông Bernanke, giới truyền thông sẽ bớt chú ý tới các phiên điều trần của ông trước Quốc hội.

Thị trường cũng sẽ không phản ứng mạnh trước phát biểu có hàm ý chính sách của các thành viên khác của FOMC, dù cho nếu như Chủ tịch Bernanke đã đại diện chính thức cho toàn ủy ban thì các Chủ tịch Fed địa phương có lẽ sẽ thoải mái thể hiện quan điểm của mình trước công chúng hơn.

Trong ngắn hạn thì có lẽ sẽ không có thêm thay đổi nào nữa nhưng nhóm “ra tín hiệu” sẽ không giải tán và sẽ tiếp tục nghiên cứu cách đưa ra các dự báo nhiều giá trị thông tin hơn.

Chắc chắn cách tiếp cận minh bạch của Chủ tịch Bernanke sẽ tiếp tục được triển khai tại Fed.

Minh Tuấn
Theo Economist

3.1.10

10 dự đoán về kinh tế toàn cầu của năm 2010


Nhà kinh tế trưởng Nariman Behravesh và các chuyên gia tại Hãng dự báo và phân tích tài chính-kinh tế IHS Global Insight dựa vào các mô hình kinh tế đặc thù được phát triển trong hơn 45 năm qua, đã đưa ra “10 dự báo kinh tế cho năm 2010” như sau:

Phục hồi kinh tế Mỹ sẽ bắt đầu chậm lại

Trong năm 2010I, HS Global Insight dự đoán tăng trưởng kinh tế của Mỹ sẽ ở mức 2-2,5%. Trong khi chi tiêu cho nhà ở và trang thiết bị dự kiến đạt mức tăng khá, thì với chi tiêu tiêu dùng chỉ tăng 1,8%, GDP của Mỹ khó thể đạt tốc độ tăng trưởng cao hơn.

Một trong những nhân tố lớn ảnh hưởng xấu đến chi tiêu của các hộ gia đình sẽ là tỷ lệ thất nghiệp, có thể tăng tới khoảng 10,5% trong quý I/2010.

Châu Âu và Nhật Bản sẽ phục hồi chậm hơn Mỹ

Châu Âu và Nhật Bản đã trải qua cuộc suy thoái sâu hơn Mỹ và có thể chứng kiến đà phục hồi yếu hơn. Các nền kinh tế khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu (euro) và Anh dự kiến tăng trưởng tương ứng là 0,9% và 0,8% trong năm 2010.

Một số nền kinh tế Tây Âu như Iceland, Ireland và Tây Ban Nha, sẽ tiếp tục giảm trong năm tới, do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính, cũng như các cơn dư chấn sau sự sụp đổ thị trường nhà ở. Trong khi đó, kinh tế Nhật Bản sẽ vận hành tốt hơn, nhưng với mức tăng nhẹ 1,4%.

Hầu hết các thị trường đang nổi sẽ phục hồi nhanh

Tăng trưởng GDP tại tất cả các khu vực đang nổi sẽ phục hồi vào năm 2010 và (có thể trừ “khu vực châu Âu” đang nổi) sẽ khởi sắc nhanh hơn so với Mỹ, châu Âu và Nhật Bản.

Châu Á (ngoại trừ Nhật Bản) được dự báo sẽ đạt mức tăng GDP 7,1% trong năm 2010, trong khi Mỹ Latinh, Trung Đông và châu Phi sẽ chứng kiến mức tăng 3-4%.

Khu vực chậm nhất sẽ là vùng “châu Âu đang nổi”, chỉ với mức tăng 1,7%.

Lãi suất tại Nhóm G8 vẫn rất thấp

Trong khi một số ngân hàng trung ương, nhất là ở Australia, Israel và Na Uy, đã bắt đầu tăng lãi suất, Cục Dự trữ liên bang Mỹ (FED), Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB), Ngân hàng Trung ương Anh (BoE) và Ngân hàng Trung ương Nhật Bản (BoJ) vẫn chưa thể có hành động tương tự cho tới quý III/2010.

Tuy vậy, một vài ngân hàng trung ương ở châu Á, đặc biệt là Ngân hàng Dự trữ ấn Độ và Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc, có thể đưa ra quyết sách này sớm hơn, cụ thể là vào quý I hoặc II/2010.

Chính sách kích thích tài chính sẽ bắt đầu được nới lỏng

Các gói kích thích kinh tế khổng lồ của một số nước, đặc biệt là Mỹ và Trung Quốc, đã giúp làm dịu tác động tiêu cực của cuộc khủng hoảng tài chính cách đây một năm.

Mặc dù vậy, với cuộc khủng hoảng hiện đã đi qua, hầu hết các quốc gia không có kế hoạch đưa ra thêm các biện pháp kích thích, trong khi một vài nền kinh tế dự kiến thắt chặt tài chính.

Ngay tại Mỹ, nơi gói kích thích kinh tế thứ hai đang được bàn bạc, Chính phủ vẫn không chi thêm cho bất kỳ chương trình nào, ngoài nỗ lực nhằm làm dịu những hiệu ứng xấu của tình trạng thất nghiệp leo thang.

Giá hàng hóa sẽ giảm

Quy mô tăng gần đây của giá hàng hoá khó có thể được đánh giá đúng mức, do đà phục hồi chậm. Một phần sự gia tăng này được cho là do hoạt động của giới đầu tư.

IHS Global Insight và IHS CERA dự đoán giá dầu và các mặt hàng khác sẽ đi xuống trong những tháng tới.

Đặc biệt, giá dầu dự kiến sẽ giảm từ các mức hiện nay (khoảng 75-80 USD/thùng) xuống khoảng 65 USD/thùng vào mùa Xuân tới, trước khi tăng dần lên hơn 70 USD/thùng vào cuối năm 2010 nhờ kinh tế toàn cầu lấy lại đà phục hồi.

Lạm phát sẽ không phải là vấn đề

Tại hầu hết các khu vực trên thế giới, lạm phát sẽ không “đáng kể”. Tỷ lệ thất nghiệp ngày càng gia tăng làm giảm mạnh tiền lương và tình trạng dự thừa công suất quá lớn trên khắp thế giới cũng sẽ hạn chế khả năng tăng giá hàng hoá của các doanh nghiệp.

Sức ép lạm phát duy nhất sẽ xuất hiện ở những nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng nhanh (chủ yếu là ở châu Á) và những quốc gia ấn định tỷ giá đồng nội tệ thấp so với đồng USD (chủ yếu ở Trung Đông và châu Á).

Tình trạng mất cân đối toàn cầu sẽ xấu đi

Suy thoái sâu của kinh tế Mỹ là nhân tố chủ chốt khiến nước này bị thâm hụt tài khoản vãng lai trên 700 tỷ USD năm 2008 và gần 450 tỷ USD năm 2009.

Tuy vậy, IHS Global Insight dự báo khoản thâm hụt này sẽ phình thêm khoảng 90 tỷ USD trong năm tới, một phần do kinh tế Mỹ sẽ tăng nhanh hơn hầu hết các nền kinh tế phát triển khác.

Song, tăng trưởng dựa vào xuất khẩu tại một số nền kinh tế lớn khác như Đức, Trung Quốc và phần còn lại của châu á cũng là một nguyên nhân.

Đồng USD tiếp tục mất giá

Nhờ triển vọng kinh tế Mỹ sáng sủa hơn đôi chút so với kinh tế châu Âu và Nhật Bản, nhu cầu về đồng USD sẽ cải thiện. Điều này có nghĩa là giá trị đồng tiền xanh của Mỹ có thể tăng trong vài tháng tới.

Tuy nhiên, do tiến bộ trong nỗ lực giảm những mất cân đối toàn cầu chỉ là tạm thời, sức ép giảm giá của đồng USD sẽ tiếp tục trong năm 2010.

Đà giảm này chắc chắn sẽ là sâu nhất so với các đồng tiền của những thị trường đang nổi, do triển vọng tăng trưởng mạnh hơn tại các nền kinh tế này.

Nguy cơ xuất hiện cuộc khủng hoảng kép là rất cao

Hiện có khoảng 20% nguy cơ xuất hiện một cuộc khủng hoảng kép, do nhiều nhân tố, trong đó có việc thắt chặt các chính sách tài chính hoặc tiền tệ, sự giảm sút mạnh trong chi tiêu tiêu dùng do thất nghiệp leo thang, sự tăng mạnh của giá dầu trên các thị trường quốc tế, cũng như sự thất bại của một vài thể chế tài chính lớn.

Sự kết hợp giữa những nhân tố này có thể đẩy tăng trưởng toàn vào khu vực tăng trưởng âm./.

Nguyễn Trường

Bạn có biết Q01.2010

Năm 2009 là một năm đáng nhớ, với nhiều biến động thăng trầm trong nền kinh tế. Sự phục hồi của kinh tế trong nước đã diễn ra nhanh hơn dự báo. Tăng trưởng GDP cao hơn mục tiêu đề ra, lạm phát được kiểm soát tương đối thấp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng ở mức khá. TTCK Việt Nam phục hồi cùng với sự cải thiện sau suy thoái của nền kinh tế. Cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index bật lại mạnh mẽ với mức tăng trên 50%.
Tính chung cả năm 2009, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,32%.
Ngày 31/12/2009, Bloomberg đã có bài viết đánh giá nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ phát triển mạnh nhất trong quý IV/2009. Cụ thể, trong quý IV, tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng thêm 6,9% so với một năm trước.

Bloomberg viết rằng trong thập kỷ vừa qua, đất nước với 86 triệu dân có tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7,3%, nâng tổng thu nhập trên đầu người lên vượt mức 1.000 USD.

"Những con số thống kê cho thấy một sự tăng tốc phát triển kinh tế theo từng quý và điều đó thật ấn tượng," ông Lawrence, Giám đốc phát triển kinh doanh tại công ty Dong A Securities đánh giá.

Ông cũng dự đoán mức tăng trưởng 7% trong năm 2010 là hoàn toàn có thể đạt được.

Mặc dù vậy, Bloomberg vẫn cảnh báo nền kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng quá nóng, quá nhanh, dẫn tới nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2010.


13.7.09

Kích cầu, được và mất đến đâu?

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính Quốc gia - Ảnh: Anh Quân.

Kích cầu, được và mất đến đâu? Những rủi ro nào có thể vượt tầm kiểm soát của Chính phủ? Có nên điều chỉnh ưu tiên chính sách? Đó là những vấn đề được nhiều chuyên gia kinh tế nêu lên trong các diễn đàn, hội thảo thời gian gần đây.

Ông Lê Xuân Nghĩa, Phó Chủ tịch Ủy ban giám sát Tài chính Quốc gia, mới đây đã có cuộc trao đổi thẳng thắn với báo giới về vấn đề này.

Kích cầu, được và mất

Thưa ông, có ý kiến cho rằng gói kích cầu của Việt Nam “không giống ai cả”…

Với gói kích cầu của Việt Nam, chúng ta nên lưu ý là chỉ hỗ trợ lãi suất cho vay nhưng không hạ lãi suất tiền gửi. Đấy là vì để tránh bẫy thanh khoản.

Các chuyên gia phân tích là nếu Mỹ, Nhật Bản hạ lãi suất xuống "zero" thì dân chúng vẫn gửi tiền vào ngân hàng như thường, không có gì thay đổi. Bởi vì tài khoản của người ta trong ngân hàng là tài khoản dùng để thanh toán, để trả mua sắm hàng ngày, tiền điện, tiền nước. Chuyện lãi suất là lặt vặt, họ không quan tâm.

Nhưng ở Việt Nam, chúng tôi tính rồi, nếu hạ lãi suất cho vay xuống 5-6% thì buộc phải hạ lãi suất tiền gửi xuống 3%. Thế thì chẳng còn ai gửi tiền. Người ta sẽ vác tiền đi mua vàng, vác tiền đi mua ngoại tệ, vác tiền đi mua chứng khoán, hoặc bất động sản, hoặc vác tiền cho nhau vay để hưởng lãi suất cao hơn.

Bẫy thanh khoản của Việt Nam là ở cái 3% ấy! Nếu người ta không gửi tiền vào ngân hàng thì cả hệ thống ngân hàng sụp đổ rất nhanh chóng.

Thứ hai, việc hỗ trợ lãi suất cho vay cũng có giá trị kích thích về mặt tâm lý. Tức là một anh doanh nghiệp đi vay được ưu đãi 4% lãi suất thì các anh khác không vay cũng tức, cảm giác mình bị thua thiệt. Thế là kích thích họ nghĩ đến chuyện cần phải vay ngân hàng. Mà đã vay là phải nghĩ cách làm ăn, chứ không lấy tiền đâu ra trả. Như vậy là duy trì được sản xuất, phục hồi ản xuất cho các doanh nghiệp.

Về phía các ngân hàng, họ cũng thấy rằng chỉ có cho vay thì họ mới được hưởng 4% đó, chứ không thì không được hưởng. Đồng thời, ngân hàng thương mại cũng nhìn thấy một điều rằng nếu cho vay, doanh nghiệp được phục hồi thì con nợ của họ còn sống, và vẫn có khả năng thu hồi được nợ…

Như vậy là có hai động lực từ phía người vay và phía người cho vay dẫn đến chuyện đẩy tín dụng ra. Mà kích cầu, mục tiêu chủ chốt là phải đẩy được tín dụng ra, làm cho tín dụng tăng trưởng, phá được băng của tín dụng.

Tăng trưởng tín dụng tại Việt Nam đã giảm liên tục trong 3 tháng liền cuối năm 2008, đến khi có gói kích cầu thì mới bùng trở lại được. Trong khi đó, ở Mỹ, chính phủ rót tiền vào ngân hàng với hy vọng các ngân hàng sẽ mở rộng cho vay. Nhưng các ngân hàng không cho vay mà gửi tiền vào ngân hàng trung ương, vì sợ cho vay thì mất, gửi vào ngân hàng trung ương cho chắc ăn. Cho nên tín dụng vẫn đóng băng như thường.

Biện pháp của Chính phủ mình thì có vẻ không giống ai, nhưng hiệu ứng kích cầu là rất mạnh, nó đẩy được tín dụng ra, tránh được cái bẫy thanh khoản.

Cũng có ý kiến cho rằng việc triển khai gói kích cầu như thời gian qua là khá dàn trải…

Thực ra là khó mà tránh được dàn trải. Dàn trải là nói thế thôi, so với các nước ta còn tập trung hơn nhiều! Chúng ta chỉ bù lãi suất cho một số lĩnh vực. Các nước họ còn dàn trải hơn ta nhiều, nới lỏng tiền tệ tất.

Họ hạ hẳn toàn bộ mặt bằng lãi suất xuống, thì bất động sản được hưởng lãi suất thấp, tiêu dùng rồi thậm chí vay mua chứng khoán cũng được hưởng lãi suất thấp. Vì họ hạ mặt bằng lãi suất xuống zero, hoặc 1-2% cơ mà.

Các chính sách vĩ mô thời gian gần đây đều đưa đến hiệu ứng phụ. Với gói kích cầu thì thế nào, theo ông?

Đương nhiên là một chính sách như vậy bao giờ cũng có hiệu ứng phụ. Chính sách mạnh thì hiệu ứng phụ cũng mạnh.

Ví dụ, doanh nghiệp đổ xô vào vay VND, chứ không vay ngoại tệ. Mà vay VND để mua ngoại tệ. Cho nên cầu ngoại tệ thì tăng lên, cung ngoại tệ thì giảm xuống, thế mới làm cho tình hình ngoại tệ căng thẳng.

Ngân hàng thương mại thừa ngoại tệ, “túi” tiền gửi thì thừa, “túi” để bán thì không có. Đó cũng là một hiệu ứng phụ mà ngân hàng trung ương phải tìm cách khắc phục. Bằng cách là anh có thể sử dụng nghiệp vụ SWAP để biến ngoại tệ tiền gửi thành ngoại tệ có thể bán được.

Hiệu ứng phụ thứ hai là nó làm cho cầu VND tăng lên, cũng có nghĩa là lãi suất tiền gửi tăng lên, đặc biệt là đối với các ngân hàng nhỏ, tài khoản thanh toán có ít.

Hiệu ứng thứ ba là nó có thể làm cho hệ thống lãi suất méo mó. Nhưng cái đó thì không quan trọng lắm, bởi vì trong thời gian ngắn, 6-7 tháng thì méo mó không thành vấn đề.

Tôi cũng không đồng tình với một số chuyên gia, họ cho rằng chính sách kích cầu của Việt Nam là không cần thiết, hoặc chuyện bù lãi suất 4% là không giống ai…

Tại sao Chính phủ phải nhảy ra để kích cầu? Tại vì dân chúng không còn lòng tin để chi tiêu, doanh nghiệp không còn lòng tin để đầu tư. Nếu không dám chi tiêu, không dám đầu tư thì đưa tiền để Chính phủ chi tiêu, để đầu tư. Thế thì mới kích thích được chứ. Để cho cầu tăng trưởng trở lại, lúc đó mới tạo lòng tin cho chi tiêu, cho đầu tư. Khi ấy thì Chính phủ có thể rút lui.

Không thể tránh hoàn toàn được lạm phát

Lạm phát hiện có phải nguy cơ lớn nhất đối với kinh tế vĩ mô và nó có khả năng vượt kiểm soát không?

Tôi cho rằng nguy cơ đáng kể nhất đối với kinh tế vĩ mô là lạm phát. Rất có thể, trong thời gian tới đây, chúng ta vừa gặp cả lạm phát cầu kéo do nới lỏng tiền tệ, lại vừa lạm phát chi phí đẩy do kinh tế thế giới phục hồi, khiến giá dầu và giá các loại nguyên vật liệu tăng lên.

Tuy nhiên, theo dự đoán của tôi, lạm phát chi phí đẩy còn yếu. Tại vì nói thế thôi chứ kinh tế thế giới phục hồi cũng còn lâu và rất là chậm chạp.

Lạm phát cầu kéo thì rất là rõ. Nhưng lạm phát cầu kéo không thôi thì nó dễ khống chế. Bởi vì cầu kéo làm giá cả tăng lên thì sản lượng cũng tăng theo. Và đến vòng sau thì sản lượng tăng cũng làm giá cả dịu đi một chút.

Rồi cầu thì do cung ứng tiền mà ra. Cho nên ngân hàng trung ương chỉ cần cắt giảm cung ứng tiền, tức là thắt chặt tiền tệ lại một chút để hạn chế cầu kéo.

Còn chi phí đẩy thì giá cả tăng lên nhưng mà sản lượng lại giảm. Ví dụ như ngày xưa, xăng 5.000 đồng/lít thì người ta chạy một ngày 5 chuyến xe bus vào Vinh chẳng hạn. Còn bây giờ, xăng lên tới 15.000 đồng/lít thì người ta chỉ chạy có 3 chuyến. Tức là sản lượng giảm đi, vì vậy làm cho giá cả tăng lên. Hơn nữa, còn có yếu tố quốc tế, cho nên Việt Nam khó khống chế được.

Vậy nên, đề kích cầu phục hồi tăng trưởng vững chắc thì ngay bây giờ phải có tính toán, dự báo những chuyện xu hướng lạm phát có thể xảy ra và có những biện pháp phòng ngừa nó ngay từ bây giờ. Chính phủ đã giao chương trình nghiên cứu chống lạm phát cho một số ngành, trong đó Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia là một kênh. Chúng tôi cũng đang tập hợp thông tin, xây dựng những mô hình phân tích để dự báo về kinh tế vĩ mô nói chung và lạm phát nói riêng để sớm đưa ra giải pháp.

Chúng ta không thể tránh hoàn toàn được lạm phát, nhưng phải kiểm soát nó trong mức tốt nhất có thể. Tôi nghĩ chỉ nên dưới 10% là tốt nhất.

Kích cầu phải đủ đô!

Nhiều tổ chức gần đây khuyến nghị Việt Nam cần xem xét lại quy mô gói kích cầu cho phù hợp với khả năng kinh tế của mình. Ông nghĩ sao về ý kiến này?

Đó là điều mà nhiều chuyên gia quốc tế người ta lo lắng, đặc biệt là ông Tổng giám đốc IMF (Quỹ Tiền tệ Quốc tế) tại Việt Nam. Ông ấy rất nhiều lần chất vấn Bộ trưởng Bộ Tài chính, chất vấn các chuyên gia trong nước về chuyện này.

Thực ra, người ta hàm ý rằng Việt Nam không vay từ bên ngoài thì làm sao có đủ nguồn lực để kích cầu. Có nghĩa là một gợi ý rằng IMF có thể cho vay, nếu Việt Nam muốn.

Mình thì có mấy nguồn chủ chốt. Nguồn thứ nhất là phát hành trái phiếu Chính phủ. Một nguồn khác là tạm ứng trước các khoản chi của ngân sách cho năm 2010 đưa vào năm 2009. Thứ ba là nguồn chi không hết của năm 2008, thay vì trước đây cắt, thì nay cho vào chi tiêu trong năm 2009.

Và nguồn cuối cùng là có một khoản vay từ nước ngoài, tôi không nhớ chính xác, trị giá vào khoảng 3 tỷ USD, chủ yếu là vay từ Ngân hàng Thế giới (WB), Ngân hàng Phát triển Châu Á (ADB), và một phần từ nguồn “Sáng kiến Chiang Mai” (nguồn hỗ trợ tăng trưởng, kích thích kinh tế của châu Á).

Trong một lần trả lời phỏng vấn báo chí, một lãnh đạo Bộ Tài chính có nói Việt Nam sẽ không vay nước ngoài để chi tiêu. Sao bây giờ lại tính đến chuyện này?

Lúc đầu, Chính phủ định không vay từ bên ngoài, dù vay từ bên ngoài lúc này dễ chứ không khó, sau đó thì thấy rằng đã làm thì phải “đủ đô”, có một tác dụng kích cầu thực sự. Nếu làm nửa vời, kích cầu nội địa lên không đủ đô, trong khi cầu thế giới đang yếu thì có thể tạo ra sốc.

Cho nên cuối cùng cũng có vay từ nguồn bên ngoài. Mà vay nước ngoài thì dễ, vay 40 năm, ân hạn 10 năm, dạng ODA. Có vẻ như nguồn lực tài chính của các định chế tài chính đang rồi rào, và họ rất thích cho những quốc gia như Việt Nam vay.

Người ta nhìn thấy tiềm năng tăng trưởng là tương đối mạnh. Người ta nhìn thấy rõ là trong suy thoái, Việt Nam có những cơ hội…

Vừa rồi WB công bố dự kiến cho Việt Nam vay 4 tỷ USD trong hai năm 2009-2010. Đây có phải nguồn tài chính huy động cho gói kích cầu?

Đúng! Tất nhiên những chương trình như vậy phải chuẩn bị từ trước. Nhưng rất hay là tiến độ giải ngân lại đúng vào dịp này.

Trong khi Việt Nam đi vay nước ngoài để tài trợ cho gói kích cầu, có ý kiến cho rằng vì sao không dùng dự trữ ngoại hối?

Tôi nghĩ là Chính phủ cũng có dùng một phần để tài trợ cho ngân sách trong quá trình kích cầu. Nhưng cụ thể nó như thế nào thì nó là bí mật quốc gia.

Dùng dự trữ để can thiệp vào thị trường hối đoái thì không vấn đề gì. Chính phủ và ngân hàng trung ương cam kết rằng sẽ thực hiện một chính sách tỷ giá hối đoái ổn định và áp dụng tất cả các biện pháp, trong đó có cả biện pháp sử dụng dự trữ ngoại tệ để ổn định thị trường ngoại hối.

Trong gói kích cầu, một phần lớn tài chính đến từ phát hành trái phiếu. Vừa rồi, một số đợt đã bán không hết trái phiếu Chính phủ, theo ông là vì sao? Sắp tới nếu bán tiếp thì phải tính toán thế nào?

Có một cái lý do nhiều người dễ nhận thấy đó là lãi suất. Lãi suất vừa qua có vẻ chưa phù hợp với mong muốn của thị trường.

Nhưng còn một lý do khác, đó là lý do kỹ thuật. Đó là Bộ Tài chính thấy rằng chỉ có thể giải ngân được chừng đó, thì chỉ huy động ngần đó thôi. Chứ huy động nhiều quá thì để trong kho rồi cứ phải trả lãi thì chết.

Mà muốn huy động được tương thích với khả năng giải ngân của Bộ Tài chính thì phải có một mức lãi suất nào đó để chỉ cần huy động chừng đó. Chứ chưa chắc đã phải Bộ Tài chính không thể bán hết và phát hành thất bại như báo chí đưa.

Kinh nghiệm đã cho thấy, chúng ta huy động 4.000 tỷ đồng cho giáo dục mà 3 năm mới giải ngân được 30-40%. Mà phải trả lãi cho 4.000 tỷ trong suốt 3 năm trời liền.

Vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách kích cầu!

Với những rủi ro có thể xảy đến, theo ông, đã đến lúc cần điều chỉnh chính sách chưa?

Tôi nghĩ là Chính phủ chắc sẽ chưa có điều chỉnh gói kích cầu mà vẫn tiếp tục theo đuổi chính sách kích cầu thôi.

Thứ nhất, Chính phủ phải đảm bảo uy tín của mình trước những tuyên bố với cộng đồng doanh nghiệp, với Quốc hội, với dân chúng.

Thứ hai, Chính phủ cũng phải đề phòng xu hướng có thể có những cú sốc nhỏ, giống như động đất, cũng phải có dư chấn.

Ví dụ như nếu kinh tế thế giới phục hồi chậm chạp, trong khi một số nguồn lực tài chính còn bất ổn. Ngay trong quá trình phục hồi vẫn có thể có khủng hoảng. Vì vậy cho nên Chính phủ vẫn phải đề phòng.

4.6.09

Thủ tướng chỉ thị xây dựng Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015

Thủ tướng Chính phủ vừa có chỉ thị về việc xây dựng Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015. Theo đó, mục tiêu tổng quát của Kế hoạch là phát triển nền kinh tế với tốc độ tăng trưởng nhanh, bền vững, tăng cường tiềm lực phát triển của đất nước.

Thủ tướng yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương, các Tập đoàn, Tổng công ty nhà nước khi xây dựng kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015 bên cạnh mục tiêu trên phải nhằm các mục tiêu khác bao gồm: Nâng cao chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh và chủ động hội nhập quốc tế, tạo chuyển biến mạnh mẽ trong chuyển đổi cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cải thiện đời sống nhân dân đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tạo việc làm, bảo đảm an ninh xã hội.

Phấn đấu GDP bình quân 5 năm 2011-2015 tăng 7-8%/ năm.

Đây là định hướng phát triển đồng thời cũng là nhiệm vụ chủ yếu của Kế hoạch Phát triển KT-XH 5 năm 2011-2015 đi đôi với yêu cầu tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn mới bình quân giảm 2-3%/ năm. Trong các định hướng phát triển và nhiệm vụ chủ yếu thì các định hướng và nhiệm vụ sau đây được nêu ở hàng đầu: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường, tạo môi trường đầu tư kinh doanh bình đẳng, minh bạch, ổn định... tháo gỡ các khó khăn thúc đẩy đầu tư, sản xuất kinh doanh phát triển.

Khai thác và phát huy lợi thế, thế mạnh của các ngành, lĩnh vực, các vùng, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển sản xuất các sản phẩm có giá trị gia tăng cao. Phát triển nông nghiệp trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh của từng vùng, địa phương.

Khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế đi đôi với tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả kinh tế nhà nước để làm tốt vai trò chủ đạo trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đồng thời, tạo mọi điều kiện thuận lợi để phát triển mạnh khu vực doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Ngoài ra, Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo Kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm 2010-2015 phải xây dựng bám sát các nghị quyết của Đảng, Quốc hội và Chính phủ về phát triển KT-XH, bảo đảm điều kiện để thực hiện các mục tiêu của Chiến lược phát triển KT-XH 10 năm 2011 - 2020.

Trong quá trình xây dựng Kế hoạch, các Bộ, ngành và địa phương cần tổ chức lấy ý kiến rộng rãi các cơ quan nghiên cứu, các trường đại học, các tổ chức phi Chính phủ, các chuyên gia trong và ngoài nước....

Thủ tướng giao Bộ Kế hoạch và Đầu tư xây dựng "Đề cương Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2011-2015", báo cáo Thủ tướng Chính phủ để trình xin ý kiến Bộ Chính trị ngay trong tháng 6/2009

27.5.09

IMF nhận định những rủi ro trên con đường phục hồi của kinh tế châu Á

Thứ nhất, nền kinh tế của hai nước đứng đầu thế giới (G2 – Mỹ và Trung Quốc) sẽ mất nhiều thời gian để hồi phục.

Báo cáo triển vọng kinh tế thế giới tháng 4/2009 của IMF nhận định kinh tế thế giới chỉ có thể hồi phục lại với điều kiện tình hình thị trường tài chính cải thiện, thương mại, sản xuất đi lên.

Tuy nhiên vẫn có khả năng áp lực trên thị trường tài chính sẽ ngày một trầm trọng hơn và chính sách hỗ trợ kinh tế vĩ mô có thể bị ngưng lại quá sớm.

Trong trường hợp này, suy thoái kinh tế toàn cầu sẽ ngày một trầm trọng. Kinh tế châu Á vì vậy sẽ khó hồi phục hơn.

Thua lỗ trong lĩnh vực doanh nghiệp sẽ vẫn trong tầm kiểm soát. Nhiều ngành tại châu Á như ngành ô tô và điện tử chịu tác động mạnh khi nhu cầu giảm, lợi nhuận đi xuống. Ngân hàng nội địa thắt chặt điều kiện cho vay.

Kinh nghiệm từ các nền kinh tế phát triển gần đây cho thấy ngay cả những doanh nghiệp có khả năng tài chính tốt khi khủng hoảng bắt đầu cũng sẽ gặp nhiều khó khăn. Nhu cầu tiêu dùng yếu, điều kiện tài chính thắt chặt có thể đẩy tỷ lệ phá sản doanh nghiệp lên mức cao.

Nếu khả năng đó xảy ra, để ứng phó, các ngân hàng sẽ tiếp tục thắt chặt điều kiện tín dụng đối với doanh nghiệp tư nhân.

Tỷ lệ rủi ro vỡ nợ doanh nghiệp có thể tăng thêm 4% lên mức đã từng thiết lập trong khủng hoảng tài chính châu Á - ảnh hưởng lên tình hình kinh tế nhìn chung sẽ không nhỏ.

Doanh nghiệp phá sản, ảnh hưởng lên tiêu dùng là không thể tránh khỏi. Tăng trưởng tiêu dùng tại một số nền kinh tế châu Á (không tính đến Trung Quốc và Ấn Độ) có thể giảm khoảng 1,75% trong năm 2009 và năm 2010. Tổng mức sụt giảm tăng trưởng tiêu dùng sẽ lên tới 6%, mức đỉnh của thời kỷ khủng hoảng tài chính châu Á năm 1998.

Tiêu dùng giảm có thể lấy đi 1% tăng trưởng GDP của khu vực trong hai năm tới.

Doanh nghiệp sẽ gặp nhiều khó khăn hơn trong tiếp cận với nguồn vốn. Nền kinh tế với những ngân hàng và doanh nghiệp nợ nhiều những năm gần đây sẽ chịu ảnh hưởng lớn hơn.

Ngân hàng châu Âu vốn có nhiều hoạt động tại châu Á, nếu ngân hàng châu Âu gặp nhiều khó khăn hơn, lượng tiền rút ra khỏi châu Á sẽ tăng cao hơn.

Tính toán của IMF cho thấy dựa trên các quan hệ đã được thiết lập, tăng trưởng GDP tại nhóm nước G7 giảm sẽ đi cùng với lượng vốn vào các nước châu Á giảm.

Trong dài hạn, kinh tế châu Á sẽ đương đầu với rủi ro nhu cầu hàng hóa từ nền kinh tế phát triển giảm. Nhiều năm nay, tiêu dùng tại các nước phương Tây tăng cao. Cho đến nay, người dân châu Âu đang cân nhắc lại về khả năng tài chính của họ, dòng chảy tín dụng dễ dàng để mua các mặt hàng tiêu dùng bền như ô tô hay hàng điện tử tiêu dùng đã chấm dứt.

Những lần khủng hoảng trước, tín dụng giảm mạnh trong thời kỳ khủng hoảng kinh tế và đứng ở mức thấp đó trong khoảng thời gian dài, điều này hạn chế tiêu dùng ngay cả sau khi kinh tế hồi phục.

Mô hình tăng trưởng kinh tế theo định hướng xuất khẩu sẽ không mang lại nhiều “hoa thơm quả ngọt” cho châu Á như trước đây.

Cần làm gì để giải quyết khủng hoảng?

Nhiều nước châu Á vẫn còn có thể hạ lãi suất cơ bản, tuy nhiên khi lạm phát giảm dần trong thời gian gần đây, ảnh hưởng của những đợt cắt giảm lãi suất đã giảm bớt. Điều kiện tài chính tại nhiều nước thắt chặt cũng gây áp lực lên tăng trưởng.

Ngân hàng Trung ương các nước châu Á nên “phá băng” trên thị trường tín dụng bằng cách mở rộng bảng cân đối kế toán giống như Ngân hàng Trung ương Nhật và Hàn Quốc.

Ngân hàng Trung ương các nước có thể hỗ trợ tín dụng thông qua các biện pháp nới lỏng tín dụng như mua trái phiếu doanh nghiệp.

Chính phủ châu Á có thể đưa ra đảm bảo hoạt động cho vay của ngân hàng, đặc biệt là hỗ trợ tín dụng cho doanh nghiệp nhỏ.

Dù là biện pháp nào được đưa ra, nhà hoạch định chính sách kinh tế châu Á cũng nên công bố rõ ràng mục đích của từng biện pháp và khả năng can thiệp nếu cần.

Cần đảm bảo rằng các chính sách tài khóa đưa ra vào năm 2009 không bị rút ra quá sớm. Nhờ vào chính sách đúng đắn và quan điểm chính sách tài khóa cẩn trọng, nhiều nước châu Á bước vào khủng hoảng với khả năng can thiệp tài khóa mạnh tay. Chính phủ châu Á vì thế đã đưa ra chính sách tài khóa với quy mô lớn hơn những lần suy thoái trước đây rất nhiều.

Chính sách tài khóa nhiều nước châu Á thường tập trung chủ yếu vào chi tiêu với trọng tâm vào cơ sở hạ tầng và không nhiều vào phúc lợi xã hội.

Cho đến nay, không nhiều nước châu Á đưa ra gói kích thích kinh tế cho năm 2010, như vậy thị trường nhận định các kế hoạch kích thích sẽ bị rút ra ở thời điểm tình hình kinh tế vẫn còn rất khó khăn.

Nhìn chung cho đến nay, nhà hoạch định chính sách kinh tế châu Á đã đưa ra chính sách hiệu quả giúp ổn định tình hình tài chính, khôi phục lòng tin vào hệ thống tài chính và ngăn sự sụp đổ. Tỷ lệ tiền gửi vào các ngân hàng tăng lên, rủi ro hệ thống trong lĩnh vực ngân hàng giảm bớt.

Dù vậy, chất lượng tín dụng sẽ vẫn đi xuống bởi suy thoái kinh tế vẫn tiếp tục và thị trường lo lắng về sức khỏe các ngân hàng.

Cần duy trì dòng chảy vốn và thương mại cởi mở. Các chuyên gia đang lo ngại về xu thế bảo hộ tại khu vực châu Á. Một số nước đã đặt ra rào cản đối với hàng nhập khẩu trong khi lại giảm thuế cho công ty xuất khẩu. Làn sóng bảo hộ dâng cao trên toàn thế giới và sẽ tiếp tục nếu tình hình kinh tế vẫn khó khăn.

Câu chuyện thời Đại Khủng Hoảng những năm 1930 cho người ta thấy quá rõ về ảnh hưởng tệ hại của chính sách “làm nghèo hàng xóm”. Xét đến sự hội nhập của kinh tế châu Á với thế giới, kinh tế châu Á sẽ chịu ảnh hưởng nặng nhất bởi chính sách kiểu như trên.

Cuối cùng, các nước châu Á nên chú ý đến các doanh nghiệp nội địa, đưa họ thành động lực tăng trưởng kinh tế. Như đã nói ở trên, châu Á đương đầu với thời kỳ tăng trưởng kinh tế đi xuống do chịu ảnh hưởng của khủng hoảng toàn cầu, người tiêu dùng tại các thị trường chính thắt chặt chi tiêu. Châu Á cần cân bằng tăng trưởng kinh tế khỏi định hướng xuất khẩu sang phát triển thị trường nội địa để có thể lấy lại mức tăng trưởng trước khủng hoảng.

Trung Quốc đã cố gắng kích thích tiêu dùng sau khi tiêu dùng xét trong tương quan với GDP giảm liên tiếp trong 1 thập kỷ.

Xây dựng hệ thống phúc lợi xã hội tốt cũng sẽ giúp kích thích tiêu dùng. Nguyên nhân chính là khi hệ thống phúc lợi tốt, nhu cầu tiết kiệm tiền để đảm bảo cho nhu cầu thiết yếu liên quan đến y tế, giáo dục và hưu trí giảm bớt. Sự thay đổi về tỷ giá hối đoái và nâng cao thu nhập thực cũng sẽ mang lại tác dụng tích cực cho tiêu dùng.

Ngọc Diệp

Theo IMF

25.5.09

IMF: Kinh tế châu Á sẽ hồi phục vào năm 2010

Báo cáo Triển vọng kinh tế thế giới (World Economic Outlook) công bố tháng 4/2009 cho rằng tăng trưởng kinh tế toàn cầu sẽ hồi phục vào đầu năm 2010. Thời điểm hồi phục phụ thuộc vào sự ổn định của thị trường tài chính toàn cầu tại thị trường các nước phát triển.

Sẽ mất một khoảng thời gian mới thể giải quyết được số tài sản xấu và hồi phục niềm tin vào bảng cân đối kế toán của các ngân hàng.

Những biện pháp toàn diện cải thiện tình hình của thị trường tín dụng, hỗ trợ từ chính sách tài khoá và tiền tệ cuối cùng sẽ giúp nền kinh tế các nước phát triển hồi phục vào năm sau.

Vấn đề hiện nay đối với các nền kinh tế châu Á là liệu có phải đến khi điều này xảy ra, khu vực này mới có thể lấy lại tăng trưởng như trước khủng hoảng?

Lịch sử cho thấy khi nhu cầu tại các nước phát triển tăng, châu Á mới có thể thoát khỏi khủng hoảng. Từ năm 1980 cho đến nay, sự hồi phục của kinh tế châu Á thường đến từ xuất khảu. Nhu cầu toàn cầu và sự hạ giá của đồng nội tệ cho phép châu Á hồi phục theo mô hình chữ V.

Lần này, không có yếu tố kích thích nào tương tự như vậy dành cho châu Á. Đóng góp của xuất khẩu vào GDP sẽ giảm trong 2 năm tới.

Nhu cầu tiêu dùng nội địa đi xuống bởi những cú sốc từ bên ngoài tiếp tục gây áp lực lên đầu tư và tiêu dùng tư nhân. Tổng đầu tư cố định trong lĩnh vực tư nhân sẽ vẫn đi xuống. Trên thực tế, xét đến liên quan giữa xuất khẩu liên quan đến nhu cầu nội địa tại một số nền kinh tế châu Á cho thấy sẽ mất một năm rưỡi nữa, tăng trưởng đầu tư tại Hàn Quốc, Malaysia, Singapore và Thái Lan mới trở lại mức trước khủng hoảng.

Tiêu dùng cá nhân dự kiến vẫn ở mức thấp bởi tỷ lệ thất nghiệp cao, lòng tin đi xuống và giá tài sản (trong đó có giá nhà đất) hạ.

Nhìn chung, chính sách nới lỏng tiền tệ và tài khoá sẽ hạn chế bớt tác động xấu lên nền kinh tế. Thế nhưng tất cả là không đủ để mang lại tăng trưởng bền vững cho khu vực.

Kinh tế châu Á năm 2009 sẽ tăng trưởng 1,3% và lên mức 4,3% trong năm 2010. Tốc độ tăng trưởng năm 2008 là 5,1%. Châu Á khó có thể lấy lại tăng trưởng như trước khủng hoảng.

Ngọc Diệp

Theo IMF

12.5.09

Ba kịch bản bội chi ngân sách năm nay

Dự kiến, Chính phủ sẽ trình Quốc hội phê chuẩn mức thâm hụt ngân sách là 8%, tại kỳ họp Quốc hội diễn ra ngày 20/5 tới.

Như vậy, mức thâm hụt ngân sách đã tăng tới 3% so với mức phê chuẩn cuối năm trước. Hiện, nhiều đại biểu Quốc hội chưa đồng tình với con số này, mà cho rằng chỉ nên là dưới 7%.

Thông tin từ Bộ Tài chính, tổng thu ngân sách 4 tháng đầu năm nay giảm gần 20% so với cùng kỳ năm 2008. Bộ Tài chính dự kiến, số thu ngân sách sẽ hụt giảm khoảng 29.000 - 63.000 tỷ đồng so với dự toán. Trong đó, giảm thu do suy giảm kinh tế và miễn, giảm, giãn các loại thuế vào khoảng 40.000 tỷ đồng.

3 kịch bản của bội chi ngân sách năm 2009 như sau:


Nếu giá dầu thô bình quân đạt 60 USD/thùng thì ngân sách sẽ hụt thu khoảng 7.600 tỷ đồng. Khi đó, mức bội chi sẽ là 6,4% GDP.


Trường hợp giá dầu xuống còn 50 USD/thùng, sẽ giảm 27.300 tỷ đồng, với mức bội chi tương ứng là 7,2% GDP.

Nếu giá dầu xuống mức 40 USD/thùng thì sẽ giảm thu tới 47.000 tỷ đồng. Tỷ lệ bội chi khi đó sẽ là 8,3% GDP.

24.4.09

Việt Nam sẽ vay tối đa 25-27 tỷ USD trong 3 năm

Tổng mức rút vốn vay nước ngoài của Chính phủ giai đoạn 2009-2012 khoảng 11-12 tỷ USD - Ảnh minh họa.

Theo thông tin từ Website Chính phủ, quy mô huy động từ nguồn vốn vay nước ngoài trung và dài hạn giai đoạn 2009-2012 của Việt Nam sẽ tối đa khoảng 25-27 tỷ USD, tăng khoảng 65% so với giai đoạn 2005-2008.

Tỷ lệ huy động vốn vay nước ngoài chiếm khoảng 16% so với tổng vốn đầu tư toàn xã hội và khoảng 6% so với GDP năm 2012. Trong đó, vay nước ngoài của khu vực công khoảng 18-19 tỷ USD, khu vực tư nhân khoảng 7-8 tỷ USD.

Chính phủ xác định mục tiêu huy động tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2009-2012 đạt khoảng 40% GDP, trong đó huy động từ nguồn vốn trong nước khoảng 65% và vốn nước ngoài bổ sung chiếm khoảng 35%.

Nguồn vốn nước ngoài huy động chủ yếu được hình thành từ vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), vốn hỗ trợ phát triển chính thức (ODA), đầu tư gián tiếp của các nhà đầu tư nước ngoài qua thị trường chứng khoán, vay thương mại (kể cả phát hành trái phiếu ra nước ngoài) và kiều hối.

Tổng mức rút vốn vay nước ngoài của Chính phủ giai đoạn 2009-2012 khoảng 11-12 tỷ USD, trong đó rút vốn vay ODA khoảng 7,5-8 tỷ USD, vay thương mại từ 3,5-4 tỷ USD.

Cơ cấu chi ngân sách nhà nước từ nguồn vay nước ngoài của Chính phủ, bao gồm cân đối ngân sách nhà nước khoảng 6-6,5 tỷ USD và cho vay lại khoảng 5-5,5 tỷ USD.

Chính phủ cũng xác định trong giai đoạn trung hạn, cần tiếp tục duy trì các chỉ số nợ ở mức an toàn và bền vững, dư nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP.

Cụ thể, giá trị hiện tại của nợ nước ngoài <45%> 200% GDP.

7.4.09

World Bank: Nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam là thấp

Trước sự giảm sút đáng kể xuất khẩu và sức cầu trong nước đang chậm lại, Ngân hàng Thế Giới dự báo khu vực các nền kinh tế đang phát triển Đông Á sẽ chỉ đạt tăng trưởng GDP thực ở mức 5,3% trong năm 2009, giảm so với 8% năm 2008 và 11.4% năm 2007.

Riêng về Việt Nam, báo cáo nêu: Nguy cơ khủng hoảng tài chính ở Việt Nam là thấp. Tác động trực tiếp của cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu là không đáng kể do các ngân hàng của Việt Nam không tiếp cận với các sản phẩm “độc hại” cũng như không nằm trong quyền kiểm soát của các ngân hàng nước ngoài trong diện rủi ro cao.

Lo ngại về những vấn đề trong nước bắt nguồn từ việc cho vay đầu tư bất động sản thiếu thận trọng vào cuối 2007 đầu 2008 đang dần lắng xuống.

Hầu hết các khoản vay giải ngân trong giai đoạn bong bóng giá tài sản đều đến kỳ đáo hạn mà không cần phải tăng biên độ nợ xấu NPL (Non-performing loans).

Các ngân hàng cổ phần lớn đều tăng vốn cổ đông, duy trì mức lợi nhuận và cải thiện danh mục đầu tư. Các ngân hàng nhà nước đã xiết chặt cơ chế cho vay và thu lợi nhuận lớn thông qua việc mua lại trái phiếu bán ra bởi nhà đầu tư ngoại. Thậm chí khối ngân hàng cổ phần nhỏ và yếu hơn cũng thành công trong việc tăng vốn điều lệ lên mức tối thiểu theo quy định.

Nguy cơ khủng hoảng cán cân thanh toán thấp. Thâm hụt thương mại trong 6 tháng vừa qua vào khoảng 2.2 tỷ USD, trong khi đó các luồng FDI, ODA và kiều hối đạt 16 tỷ USD trong năm 2008. Kiều hối và các khoản giải ngân vốn ODA ổn định trong suốt năm 2008.

Giải ngân vốn ODA có khả năng giảm mạnh trong năm 2009 tuy nhiên chưa có bằng chứng xác đáng để khẳng định điều này.

Lượng kiều hối ổn định ở mức cao và không song hành với những người lao động di cư chuyển tiền về nước để hỗ trợ tiêu dùng hộ gia đình bởi vì chủ yếu là do người Việt Nam có tuổi ở nước ngoài đầu tư về nước chuẩn bị cho giai đoạn hưu trí. Cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài có khả năng phải chịu ảnh hưởng của suy giảm kinh tế tại các nước công nghiệp.

Thâm hụt thương mại giảm chuyển dần sang thặng dư nhỏ. Thực tế là xuất khẩu giảm với mức sụt giá mạnh đối với hàng hóa xuất khẩu kể từ giữa năm 2008 và số lượng đơn đặt hàng thưa thớt đối với các sản phẩm may mặc, giầy dép và các sản phẩm khác cho thấy xu hướng xuất khẩu tiếp tục đi xuống.

Tuy nhiên Việt Nam có thể bị ảnh hưởng ít hơn các nước khác là do khả năng cạnh tranh tốt, thông qua việc tăng trưởng thị phần. Năm 2009 Việt Nam có thể sẽ được Hoa Kỳ cho vào danh sách hưởng ưu đãi từ Hệ thống Ưu đãi Phổ cập. Hơn nữa, nhập khẩu thậm chí đang giảm nhanh hơn xuất khẩu một phần bởi vì tỉ trọng nhập khẩu trong các sản phẩm xuất khẩu phi hàng hóa khá cao. Các công ty đầu tư nước ngoài đều là các nhà nhập khẩu ròng vì thế việc các luồng FDI chậm lại sẽ đồng nghĩa với thâm hụt thương mại giảm xuống.

Thâm hụt thương mại năm 2009 ước tính ở mức thấp hơn và các luồng vốn ngắn hạn có thể hạn chế sự biến động của tỷ giá hối đoái.

Tiền Đồng tăng giá thực tế khá mạnh trong năm 2008, ở mức 25% - cao hơn tăng trưởng GDP thực gấp 4 lần. Khả năng giảm giá thực tế đồng tiền Việt Nam trong năm 2009 là thấp, tuy nhiên chính phủ đang từng bước áp dụng một cơ chế tỉ giá linh hoạt hơn.

Chính sách tiền tệ được đưa ra đúng lúc đã giảm thiểu tác động của các cú sốc từ biến động về giá cả trên thế giới và nhu cầu xuất khẩu, mặc dù tác động đó là do may mắn nhiều hơn là thiết kế của chính chính sách.
Tỷ giá hối đoái linh hoạt hơn và các luồng vốn chững lại trong suốt năm 2008 đã khiến cho các chính sách tiền tệ trở nên hiệu quả.

Chính phủ chủ động trong việc sử dụng công cụ này thông qua việc cắt giảm lãi suất 700 điểm kể từ tháng 6 năm 2008 xuống còn 7% vào tháng 3 năm 2009.

Chính sách tài khóa sẽ đóng vai trò chính trong năm 2009.

Nhìn bề mặt, bối cải tình tình tài chính không thay đổi trong năm 2008. Tuy nhiên, tăng trưởng GDP thực năm 2008 thấp hơn so với 2007 dẫn đến khả năng chính sách tài chính bị thắt chặt.

Nền kinh tế Việt Nam đối mặt với nhu cầu yếu ớt trên thị trường toàn cầu – điều này dẫn tới sức cầu trong nước thấp đi qua việc đóng cửa các xí nghiệp và sa thải nhân công.

Tín dụng ngân hàng và bảo lãnh vay với lãi suất thấp có thể kéo lại sức cầu do đầu tư thương mại đã cạn kiệt nguồn vốn.

Tuy nhiên tín dụng ngân hàng với mức lãi suất thấp không thể khuyến khích các doanh nghiệp sản xuất nếu như không có nhu cầu đối với các sản phẩm của họ. Sẽ hiệu quả hơn nếu tăng nhu cầu qua việc trực tiếp hỗ trợ các hộ gia đình và thực hiện các dự án đầu tư công. Xây dựng là ngành có khả năng bù đắp lớn nhất cho việc sụt giảm ngành sản xuất trong nước.

Ngân sách nhà nước cho năm 2009 cho thấy sẽ có thâm hụt lớn tương đương với tổng mức thâm hụt là 7% GDP. (Từ trước đến nay mức thâm hụt thường thấp hơn so với dự toán ngân sách và năm nay cũng có thể tương tự). Chính phủ cũng đã công bố gói kích cầu tài chính bao gồm trợ cấp bằng tiền mặt (một lần) cho các hộ nghèo, tăng chi hạ tầng cơ sở, giảm thuế, hỗ trợ lãi suất cho các khoản tín dụng vốn hiện hành, bảo lãnh tín dụng đối với các khoản vay giành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Vũ Minh (ghi)

31.3.09

Bạn có biết Quý 02.2009

Với mức dự báo tăng trưởng 4,5% cho năm 2009 và 6,5% cho năm 2010 của ADB, ngân hàng này đã dựa trên những giả định là Chính phủ tiếp tục có những biện pháp kích thích tài chính tiếp theo ngoài 1 tỷ USD năm 2009.

NHNN Việt Nam vẫn duy trì chính sách tiền tệ nới lỏng. Sản lượng dầu dự kiến sẽ tăng lên 15,5 triệu tấn trong năm 2009, nhà máy lọc dầu Dung Quất có khả năng chế biến 6,5 triệu tấn dầu thô mỗi năm.

Tuy nhiên, triển vọng kinh tế năm 2010 được dự đoán là sẽ sáng sủa hơn với mức tăng trưởng 6,5%.
Chính sách tiền tệ nới lỏng, sự gia tăng tiêu dùng và đầu tư trong nước sẽ được thúc đẩy khi chính sách kích cầu của Chính phủ tác động lên toàn bộ nền kinh tế. Ngoài ra, tình hình tài chính quốc tế dự đoán là sẽ được cải thiện, do đó đầu tư nước ngoài vào Việt Nam sẽ tăng, giá trị xuất khẩu cũng tăng lên.

Ông Ayumi Konishi, Giám đốc Quốc gia của ADB tại Việt Nam cho biết, thách thức đối với Việt Nam trong ngắn hạn là phải hạn chế sự tăng trưởng chậm chạp trong khi vẫn kiểm soát thâm hụt tài chính và thâm hụt tài khoản vãng lai.
Chính phủ Việt Nam cần đẩy mạnh cải cách kinh tế, mở cửa hơn theo cam kết WTO, đảm bảo lòng tin đối với nhà đầu tư.

Dự đoán của ADB về thâm hụt ngân sách năm 2009 tăng lên 9,8% GDP do Chính phủ giảm nguồn thu từ dầu mỏ, thuế thu nhập doanh nghiệp giảm từ 28% xuống 25%, chi cho gói kích cầu.

Con số này dự đoán năm 2010 giảm xuống 5,3% GDP do giá dầu thế giới dự báo tăng, kinh tế phục hồi thúc đẩy tổng thu của Chính phủ, chi tiêu cho biện pháp kích thích tài chính giảm.

Nhận định về tăng trưởng của Việt Nam trong trung hạn ADB cho rằng, GDP của Việt Nam sẽ dao động từ 7 – 7,5% do FDI đầu tư vào Việt Nam tăng mạnh. Chính phủ Việt Nam cho phép tư nhân hóa toàn bộ một số doanh nghiệp Nhà nước, đặc biệt thông qua việc bán chúng cho nhà đầu tư nước ngoài có nhiều khả năng sẽ thúc đẩy dòng vốn FDI chảy mạnh hơn.

1.2.09

Bạn có biết Quý 01.2009

Chuyên mục Bạn có biết tóm tắt các thông tin chính của thị trường tài chính quốc tế và Việt Nam.

Khi các thông tin không được đăng theo bài, tác giả trích dẫn nội dung chính và đăng lên chuyên mục theo Quý.

Lạm phát

Tăng trưởng

Thất nghiệp

Lãi suất

Tỷ giá

Chính sách tài khóa

Kích cầu

Kiểm soát


31.1.09

10 sự kiện kinh tế 2008


Lạm phát vừa được đẩy lùi, nguy cơ suy giảm đã lộ diện. Trong bối cảnh khó khăn bao trùm lên mọi lĩnh vực của nền kinh tế, Việt Nam vẫn đạt mức tăng trưởng đáng khích lệ 6,23%, hút vốn đầu tư nước ngoài lập kỷ lục mới.

Dưới đây là những nét nổi bật trong bức tranh kinh tế năm qua, theo đánh giá của VnExpress.net.

1. Xăng dầu đắt chưa từng thấy

Ngày 21/7, giá xăng được điều chỉnh từ 14.500 lên 19.000 đồng. Ảnh: Hoàng Hà.

Đợt tăng giá xăng từ 14.500 đồng lên 19.000 đồng một lít cuối tháng 7 là cú sốc với cả doanh nghiệp và người dân. Nhiều mặt hàng tiêu dùng nhanh chóng tăng vọt, chi phí sản xuất kinh doanh lên cao. Ngành vận tải bị ảnh hưởng rõ rệt nhất khi tài xế lãn công đòi tăng cước, các hãng hàng không thi nhau báo lỗ, hoãn kế hoạch cất cánh. Thị trường chứng khoán cũng choáng váng trước cuộc tháo chạy của các nhà đầu tư.

Mức tăng giá kỷ lục 30% trên được giải thích là việc phải làm nhằm hỗ trợ doanh nghiệp và chia sẻ gánh nặng với Nhà nước do giá dầu thế giới leo lên đỉnh 147 USD mỗi thùng và thuế nhập khẩu bằng 0%.

Tuy nhiên khi giá dầu thế giới xuống mạnh và nhanh, xăng trong nước lại hạ từ từ nhỏ giọt. Sau 10 lần giảm giá, cuối cùng xăng về mức 11.000 đồng một lít, song nhiều mặt hàng tiêu dùng vẫn không chịu giảm.

2. Kiểm soát lạm phát thành công

Diễn biến chỉ số giá tiêu dùng trong năm. Nguồn dữ liệu: Tổng cục Thống kê

Lạm phát lên đến đỉnh điểm vào cuối tháng 7, sau cơn sốt gạo cục bộ và cú sốc tăng giá xăng. Dự báo chỉ số giá tiêu dùng (CPI) của cả năm là 20%, song thực tế từ giữa năm trở đi, liên tục ở mức trên 25% so với cùng kỳ và chạm đỉnh 28,32% vào tháng 8.

Kiềm chế lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô trở thành mục tiêu ưu tiên hàng đầu. Giải pháp cắt giảm thuế nhập khẩu các mặt hàng thiết yếu, tạo sức ép hạ giá tiêu dùng hết hiệu quả. Ngân hàng Nhà nước lãnh trọng trách thắt chặt tiền tệ, Bộ Tài chính siết nhập siêu và quản chặt giá các mặt hàng thiết yếu. Chính phủ đưa ra 8 gói giải pháp, trong đó yêu cầu cắt giảm đầu tư công, kêu gọi tiết kiệm chi tiêu và hạn chế nhập khẩu các mặt hàng xa xỉ.

Liều thuốc mạnh đã phát huy tác dụng khi lần đầu tiên sau 18 tháng, CPI tăng chậm lại xuống mức âm vào tháng 10. Chỉ số của cả năm dừng ở 19,89%, cao nhất trong hơn 10 năm qua, song vẫn thấp hơn nhiều so với dự báo và lo ngại của giới chuyên gia.

3. Nguy cơ suy giảm kinh tế lộ diện

Kinh tế toàn cầu rơi vào suy thoái quý cuối cùng của năm đã tác động mạnh tới Việt Nam. Dấu hiệu suy giảm tăng trưởng lộ diện rõ nét khi tiêu dùng giảm mạnh, CPI ở mức âm 3 tháng liên tiếp, sản xuất kinh doanh đình đốn, kim ngạch xuất khẩu giảm sút. Nguồn thu ngân sách bị đe dọa do giá dầu thô sụt mạnh.

Chính phủ đã huy động mọi lực lượng chống suy thoái và tuyên bố chi 1 tỷ USD hỗ trợ nền kinh tế. Cộng với các khoản hỗ trợ vốn vay ưu đãi, giảm thuế, tổng gói kích cầu đầu tư và tiêu dùng dự kiến lên tới 6 tỷ USD.

Lần đầu tiên trong một năm Chính phủ hai lần điều chỉnh chỉ tiêu tăng trưởng GDP, từ 8-8,5% xuống 7% và hạ tiếp còn 6-6,5%. Tuy nhiên, tính chung cả năm 2008, GDP chỉ tăng 6,23%.

4. FDI lập kỷ lục mới

Các dự án công nghiệp và xây dựng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng vốn FDI đăng ký vào Việt Nam năm 2008. Ảnh: thehindubusiness

Bất chấp những bất ổn về kinh tế vĩ mô và sóng gió trên thị trường tài chính quốc tế, vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) đăng ký vào Việt Nam 2008 đạt trên 64 tỷ USD, tăng gấp 3 lần kỷ lục đạt được năm trước. Một loạt dự án quy mô hàng tỷ USD đã được công bố và sớm triển khai chỉ vài tháng sau cấp phép.

Giới đầu tư nước ngoài tiếp tục đánh giá cao triển vọng đầu tư trung và dài hạn tại Việt Nam. Tuy nhiên, tình hình kinh tế thế giới suy giảm có thể dẫn tới nguy cơ một số dự án FDI thép, bất động sản khó giải ngân vốn như đã đăng ký.

5. Nhật tạm ngừng ODA cho VN

Đại sức Nhật Bản Mitsuo Sakaba tại Hội nghị CG đầu tháng 12. Ảnh: PV

Không ai lường trước nghi án hối lộ PCI lại có thể dẫn tới kết cục buồn đến vậy. Tại Hội nghị nhóm tư vấn các nhà tài trợ (CG) đầu tháng 12, đại sứ Nhật bất ngờ công bố ngưng cấp vốn ODA cho Việt Nam, dù trước đó đã cơ bản thống nhất khoản vay ưu đãi 65 tỷ yen cho 3 dự án hạ tầng quan trọng tại Hà Nội và Hải Phòng.

Đây là lần đầu tiên một đối tác ngưng hỗ trợ ODA cho Việt Nam. Hai bên đã có những bàn thảo để xử lý vướng mắc và cựu thủ tướng Nhật Yasuo Fukuda trong chuyến thăm Việt Nam những ngày cuối năm bày tỏ tin tưởng, Nhật sẽ sớm nối lại ODA.

Tổng vốn ODA cho 2009 đạt 5,014 tỷ USD, thấp hơn năm ngoái gần 400 triệu USD, nhưng được đánh giá là khả quan trong bối cảnh kinh tế toàn cầu suy thoái.

6. Vn-Index sụt gần 70% giá trị

Hai năm trước không ai nghĩ chứng khoán Việt Nam có ngày quay lại vạch xuất phát.
Ảnh: Hoàng Hà

Vn-Index khởi động ở 921,07 điểm nhưng cuối năm đã về sát mốc 300, đúng bằng vạch xuất phát của hai năm về trước. HaSTC-Index cũng "bốc hơi" gần 67% giá trị.

Hàng chục giải pháp cứu thị trường được đề xuất như lập quỹ bình ổn giá, bán cổ phiếu tự doanh, thậm chí phương án tạm đóng cửa giao dịch. Tổng Công ty Đầu tư và Kinh doanh Vốn Nhà nước được chọn mặt gửi vàng, dùng 5.000 tỷ đồng mua cổ phiếu để cứu giá, song kết quả như muối bổ bể. Ủy ban Chứng khoán buộc phải điều chỉnh biên độ 4 lần mà vẫn không thể làm xanh sàn giao dịch.

Cùng với diễn biến ảm đạm trên thị trường niêm yết, các phiên đấu giá cổ phần cũng thưa thớt hẳn, nhiều đại gia lần lượt trì hoãn IPO. Vietinbank cố gắng chào bán cổ phần vào cuối năm, song giá trúng chỉ nhỉnh hơn khởi điểm vài trăm đồng. Sự kiện Bông Bạch Tuyết bị ngừng giao dịch và có thể tính chuyện hủy niêm yết càng khiến bức tranh chung thêm ảm đạm.

7. Bong bóng bất động sản xì hơi

Thị trường nhà đất cuối năm: Thừa cung - thiếu cầu. Ảnh: Hoàng Hà.

Bong bóng bất động sản căng phồng lên do những yếu tố ảo xuất phát từ năm trước và bắt đầu xì hơi khi nguồn vốn cho vay từ ngân hàng bị siết chặt. Mãi lực gần như bằng không, giá cả sụt mạnh. Đầu năm giá nhà đất giảm 10-15%. Sang tháng 3, mức sụt lên tới 50% và tiếp tục giảm sâu vào giai đoạn tháng 6-10, có dự án rơi đến 60-70% giá.

Trong năm, giới kinh doanh bất động sản còn đối mặt với nhiều vụ kiện tụng chưa từng có. Đó là câu chuyện bán khống số tầng của tòa nhà, các vụ đòi lại tiền hợp tác đầu tư vì dự án mập mờ về pháp lý hoặc có tiến độ rùa bò, tranh chấp tài sản chung riêng trong chung cư...

Dự báo của nhiều chuyên gia, năm 2008 chỉ mở đầu thời kỳ thoái trào mà ngành bất động sản phải hứng chịu. Nhiều khả năng 2009 sẽ là phần cao trào của kịch bản suy giảm với không ít khó khăn.

8. Ngân hàng vật lộn với khủng hoảng

Nhiều ngân hàng được cấp phép thành lập trong năm. Ảnh: Hoàng Hà.

Cơn bão tài chính thế giới cùng những bất ổn tiềm tàng đẩy toàn hệ thống ngân hàng vào vòng xoáy nghiệt ngã. Chính sách tiền tệ có công lớn trong việc kiểm soát lạm phát, song đã tạo những cú sốc với doanh nghiệp và chính các ngân hàng. Hàng loạt quyết định như phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc, tăng lãi suất cơ bản lên 14%, tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc… đẩy các ngân hàng vào cuộc đua tăng lãi suất và giành giật vốn. Lãi suất đầu vào tăng cao, ngân hàng lâm vào cảnh càng cho vay càng lỗ vì không thể đẩy lãi suất đầu ra cao quá trần quy định.

Chưa kịp hoàn hồn với cuộc khủng hoảng thiếu thanh khoản, ngân hàng lại rơi vào một chiếc bẫy mới khi chính sách tiền tệ liên tiếp được nới lỏng. Chỉ trong vòng ba tháng cuối năm lãi suất cơ bản giảm 5 lần, 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc được thanh toán trước hạn. Phần vốn huy động với lãi suất cao chưa kịp đẩy đi, ngân hàng lại phải nhanh chóng hạ lãi suất cho vay theo đúng quy định. Đã vậy, doanh nghiệp cũng không còn thiết tha vay vốn vì sản xuất đình đốn. Ngân hàng rơi vào cảnh thừa vốn mà không thể cho vay. Phần lớn các ngân hàng phải điều chỉnh kế hoạch lợi nhuận, thậm chí sẵn sàng đối mặt với nguy cơ thua lỗ. Tuy nhiên, lỗ lãi không phải là điều đáng ngại nhất. Họ sẽ bước sang năm mới với nỗi lo canh cánh về nợ xấu khó đòi, đặc biệt trong lĩnh vực bất động sản.

9. Giá đôla vượt mốc 19.000 đồng

Một đôla chợ đen có lúc vượt ngưỡng 19.000 đồng. Ảnh: Hoàng Hà.

Cung ngoại tệ tăng mạnh, cộng với những đồn thổi kiểu đồng Việt Nam tăng giá do sức ép hội nhập khiến đôla mất giá và liên tiếp đứng dưới ngưỡng 16.000 đồng trong ba tháng đầu năm.

Thị trường quay ngoắt 180 độ khi kinh tế bộc lộ nhiều khó khăn, nhập siêu gia tăng. Tỷ giá USD/VND ngoài chợ đen đột ngột phá mốc 17.000 đồng. Giá giao dịch trong ngân hàng luôn chạm, thậm chí vượt trần quy định. Đỉnh cao 19.400 đồng ăn một đôla đạt được vào ngày 18/6, khi những số liệu mới công bố cho thấy nhập siêu ở mức kỷ lục, nhu cầu mua ngoại tệ thanh toán và đặc biệt là để nhập vàng tăng vọt. Người dân, doanh nghiệp đua găm giữ ngoại tệ, do niềm tin vào tiền đồng bị lung lạc. Những tin đồn thổi kiểu Việt Nam phá giá tiền đồng, tái áp dụng quy định kết hối, cấm rút tiết kiệm bằng ngoại tệ... được dịp lan đi.

Ngân hàng Nhà nước đã phải công khai dự trữ ngoại hối và tăng cường can thiệp thị trường, nhằm củng cố niềm tin của công chúng với đồng tiền Việt Nam. Ngân hàng Nhà nước cũng phải nới biên độ 3 lần, từ mức 0,75% lên 3% nhằm tạo điều kiện cho ngân hàng trong việc mua bán ngoại tệ và hỗ trợ xuất khẩu.

10. Giá vàng lập kỷ lục 19,5 triệu đồng một lượng

Giá vàng chơi trò ú tim với người tiêu dùng. Ảnh: Hoàng Hà.

Giá vàng hai lần vượt qua mốc 19 triệu đồng một lượng, do giá thế giới lập kỷ lục trên 1.000 USD mỗi ounce, và nhu cầu đầu tư trong nước ngày một lớn. Nhập khẩu vàng miếng tăng đột biến được cho là một nguyên nhân gây nhập siêu. Cơ quan quản lý phải nâng thuế gấp đôi rồi tiến tới hạn chế nhập khẩu, giá trong nước vì thế càng tăng cao và vênh xa so với thế giới.

Tuy nhiên, khắc sâu trong tâm trí của dân chơi vàng lại là những cú sụt giá kinh hoàng. Từ đỉnh cao 19,5 triệu đồng, sau đêm 19/3, giá vàng sụt 700.000 đồng mỗi lượng. Cú giảm điểm hôm 12/8 còn khủng khiếp hơn, 900.000 đồng mỗi lượng, khiến nhiều nhà đầu tư trắng tay. Thị trường vàng miếng nguội lạnh vào những tháng cuối năm, do không ít nhà đầu tư bỏ cuộc chơi, vốn liếng cũng cạn dần.

Năm 2008 chứng kiến sự nở rộ của các sàn giao dịch vàng, cung cấp thêm một kênh đầu tư tài chính bên cạnh chứng khoán, bất động sản hay chơi vàng vật chất. Tuy nhiên, do chưa có chế tài quản lý rõ ràng, các sàn vàng đang hoạt động tự phát với đầy rẫy nguy cơ và rủi ro.

VnExpress.net

7.1.09

Kịch bản cũ trên thị trường ngoại tệ có lặp lại?

Cuối giờ chiều ngày 24/12/2008, Ngân hàng Nhà nước công bố điều chỉnh tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên ngân hàng áp dụng cho ngày 25/12/2008 lên mức 16.989 đồng đổi 1 USD.

Hai tuần đã trôi qua kể từ khi quyết định được công bố. Tuy nhiên, liệu quyết định này đã giúp giải tỏa những nút thắt trên thị trường ngoại tệ như kỳ vọng?

Việc Ngân hàng Nhà nước để tỷ giá USD/VND tăng đã được dự liệu từ trước. Sau quyết định trên, thị trường đã có một số những biểu hiện tích cực như lượng bán USD của cá nhân và doanh nghiệp tăng lên, hoạt động mua bán USD trên thị trường liên ngân hàng sôi động trở lại.

Tuy nhiên, cũng cần nhận rõ, thời điểm này là cuối năm. Do đó, việc doanh nghiệp và người dân bán USD để lấy tiền Việt chưa hẳn đã hoàn toàn do tác động của việc nâng tỷ giá lên mặt bằng mới mà có thể đơn giản chỉ là do nhu cầu chi tiêu, trả lương, thưởng, thanh toán hợp đồng cuối năm.

Còn nhớ, sau quyết định trước đây của Ngân hàng Nhà nước nới biên độ giao dịch USD từ ±2% lên ±3%, thị trường cũng có những biểu hiện tốt. Tuy nhiên, chỉ sau một thời gian ngắn, giao dịch đã lâm vào "bế tắc". Hiện nay, cũng đã xuất hiện những biểu hiện giống những gì diễn ra trước đây:

- Tỷ giá bán USD niêm yết của các ngân hàng đều ở mức giá trần. Khoảng cách giữa giá mua và giá bán niêm yết đang dần được rút ngắn.

- Thị trường liên ngân hàng sau một số giao dịch thành công tại mức giá sát trần hoặc bằng trần bắt đầu có hiện tượng rơi vào trầm lắng.

Câu hỏi đặt ra là nếu lần này những diễn biến tiếp theo trên thị trường ngoại tệ giống như những gì đã diễn ra sau lần nới rộng biên độ tỷ giá trước đây (tức là giá niêm yết mua, bán USD của các ngân hàng đều bằng nhau và bằng giá trần, giao dịch mua bán giữa VND và USD trên liên ngân hàng không thể thực hiện được) thì việc nới biên độ tỷ giá hay tăng mạnh tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng có nên là bước đi tiếp theo của Ngân hàng Nhà nước?

Để có câu trả lời chính xác có lẽ phải tìm cho được nguyên nhân dẫn đến sự ngưng trệ.

Nếu việc không có ai bán USD là do chưa đạt mức giá kỳ vọng thì việc tăng tỷ giá lên một mặt bằng mới là điều cần thiết. Tuy nhiên, có thể nói điều này là rất khó xác định vì đó là vấn đề tâm lý. Trong khi tâm lý lại rất dễ thay đổi khi bối cảnh thay đổi. Vấn đề có thể xác định dễ hơn là mức độ của nguồn cung USD.

Rõ ràng, giá lên là do cầu lớn hơn cung. Tuy nhiên, cầu lớn hơn cung ở mức độ nào và có thể giải quyết bằng giá không lại là vấn đề khác.

Điều này cũng tương tự như một người khát nước và muốn mua nước. Nếu anh ta ở trong một khu vực hạn hán nhưng vẫn có một số nguồn cung cấp nước thì vẫn có thể mua được. Nhưng nếu anh ta ở giữa sa mạc, xung quanh không có bất kỳ nguồn nước nào thì dù anh ta có sẵn sàng bỏ ra rất nhiều tiền, anh ta cũng không thể mua được.

Nếu USD quá thiếu hụt thì giá không còn là vấn đề nữa mà là nguồn cung USD. Việc nâng giá lên tiếp tục trong một thời gian ngắn sẽ không thể giúp thị trường thoát khỏi bế tắc mà chỉ tiếp tay cho nạn đầu cơ.

Từ đó, theo người viết, có thể thấy nếu kịch bản cũ lặp lại trên thị trường ngoại tệ, Ngân hàng Nhà nước có lẽ sẽ không cần vội vã nâng tiếp tỷ giá mà trước hết sẽ xác định nguyên nhân nằm ở đâu.

Nếu nguyên nhân nằm ở nguồn cung USD thì việc nới biên độ hay nâng tỷ giá sẽ không phải là giải pháp hay trong ngắn hạn. Trong trường hợp đó, có lẽ, việc Ngân hàng Nhà nước có thể làm là tìm nguồn cung (dù là tạm thời) cho thị trường, rồi sau đó mới tính đến việc nâng tỷ giá lên mặt bằng mới để kích thích xuất khẩu, đầu tư nước ngoài… nhằm tăng thu ngoại tệ cho quốc gia trong dài hạn.

Theo Đặng Khánh Duy
Vneconomy

26.12.08

Chính thức thông báo bù 4% lãi suất từ vốn kích cầu

Các đối tượng được vay dự kiến sẽ được bù 4% lãi suất từ nguồn vốn kích cầu 1 tỷ USD của Chính phủ.

Tại cuộc họp báo chiều qua (24/12), Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc cho biết Chính phủ đã họp và quyết định sẽ sử dụng nguồn vốn 1 tỷ USD để kích cầu trong trường hợp cấp bách, từ nguồn dự trữ.

Nguồn vốn tương ứng với hơn 17.000 tỷ đồng này, theo kết luận của Chính phủ, sẽ dùng để hỗ trợ lãi suất trong năm 2009 qua hệ thống các ngân hàng.

Về mức hỗ trợ, thông tin tại cuộc họp báo đưa ra hai giả thiết: bù lãi suất 4%; giả sử lãi suất vay thực tế 10%, bù lãi suất 4% thì đối tượng vay chỉ phải trả lãi suất 6%. Một ý kiến khác đề xuất bù 50% mức lãi suất vay vốn, như vay với lãi suất 10% thì bù 5% và phải trả 5%.

“Các ngân hàng sẽ cho các doanh nghiệp, ưu tiên trước hết là các doanh nghiệp nhỏ và vừa, vay vốn với lãi suất ưu đãi. Hiện phần bù lãi Chính phủ đang giao cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước xem xét”, Bộ trưởng Võ Hồng Phúc cho biết.

Điểm đến của nguồn vốn này được xác định là ưu tiên hỗ trợ cho vay đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa để giải quyết những khó khăn trong sản xuất kinh doanh, giải quyết việc làm và hạn chế thất nghiệp; để xây dựng nhà ở chính sách xã hội, hỗ trợ cho sinh viên vay vốn...

Việc triển khai cho vay và hỗ trợ lãi suất, theo Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư, sẽ thực hiện công khai, minh bạch, thông qua sự tham gia của hệ thống ngân hàng. Tuy nhiên, các tiêu chí xét chọn đối tượng được vay vốn chưa có thông tin cụ thể.

Liên quan đến nguồn vốn cho kích cầu, con số khoảng 100.000 tỷ đồng được Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư đề cập tại buổi họp báo.

Còn theo Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh, nguồn kích cầu trị giá khoảng 100.000 tỷ đồng nói trên bao gồm cả chính sách và tiền hỗ trợ trực tiếp.

Ngoài 1 tỷ USD từ dự trữ, nguồn gián tiếp có từ chính sách giảm, giãn thuế cho doanh nghiệp. “Nếu theo mức giảm như vậy (theo định hướng trong Nghị quyết số 30 - PV) thì Chính phủ sẽ không thu về ngân sách khoảng 13.000 – 15.000 tỷ đồng, thực chất là tiền”, Bộ trưởng Vũ Văn Ninh nói.

Hoặc như với những dự án cần đầu tư như các công trình giao thông, thủy lợi, trường học, bệnh viện, Chính phủ sẽ phát hành thêm trái phiếu để gọi vốn; với những dự án chưa giải ngân hết trong năm 2008 sẽ được chuyển sang năm 2009 hay đã ứng trước kế hoạch năm 2009 để hoàn thành trong năm 2008 sẽ được xem xét tạm hoãn thu hồi… Và theo Bộ trưởng Ninh, đó cũng là những nguồn vốn thực.