Showing posts with label 2. CHỨNG KHOÁN. Show all posts
Showing posts with label 2. CHỨNG KHOÁN. Show all posts

3.5.11

Vĩ mô bất ổn, nhà đầu tư đua nhau mua bảo hiểm tránh “thiên nga đen”

Những lúc từ Trung Đông tới Nhật Bản đất đều đang rung chuyển như thế này, nhà đầu tư mới hoảng hốt tìm cách tự bảo vệ mình.

Tự bảo hiểm (hedge) “rủi ro đuôi” (tail-risk, tức các rủi ro có xác suất cực nhỏ) là câu chuyện nóng trên phố Wall vào năm 2008 sau khi thị trường chứng khoán toàn cầu nhấn chìm nhiều nhà đầu tư không biết nên tự bảo vệ mình thế nào trước các sự kiện cực đoan hay “thiên nga đen”.

Những sự kiện vốn nằm ngoài miền phân phối xác suất ấy có thể gây thua lỗ khổng lồ cho giới đầu tư quốc tế.

Hiện lãi suất đang tăng lại khi cách mạng bùng nổ ở Trung Đông và động đất làm rung chuyển Nhật Bản khiến các thị trường đều bất ổn và mức độ biến động gia tăng. Giới đầu tư lại hoảng hốt đi tìm các cách phòng vệ mới.

Những tổ chức cung cấp các sản phẩm phòng ngừa “tail-risk” thích so sánh chúng với bảo hiểm: nhà đầu tư trả phí hàng năm để tránh thảm họa tài chính sau này.

Một số thậm chí còn nâng chúng lên tầm triết học. Vineer Bhansali từ quỹ PIMCO đã liên tưởng “tail-risk” với “Canh bạc của Pascal”, tức là thà bạn tin vào Chúa còn hơn chịu đựng hậu quả khi mình sai lầm. Những đợt sụt giá thê thảm của thị trường cũng tương tự như vậy.

Về mặt kỹ thuật thì “tail risk” được định nghĩa là xác suất (cao hơn kỳ vọng) của một khoản đầu tư khi nó biến động quá ba lần độ lệch chuẩn tính từ giá trị trung bình. Với người không chuyên thì có thể hiểu đơn giản đó là khi giá trị danh mục đầu tư của mình mất giá trầm trọng.

Có nhiều cách khác nhau để tự bảo hiểm “tail risk”, nhưng một cách phổ biến là tạo ra một rổ các chứng khoán phái sinh sẽ cho lợi nhuận kém cỏi lúc thị trường ổn định nhưng tăng mạnh nếu thị trường giảm sâu. Rổ phái sinh này bao gồm các quyền chọn của nhiều loại tài sản, ví dụ như chỉ số cổ phiếu và chỉ số hợp đồng hoán đổi rủi ro vỡ nợ tín dụng.

Một số ngân hàng đã bắt đầu bán các sản phẩm bảo hiểm cho “tail risk”.

Deutsche Bank đã đưa ra chỉ số ELVIS, sản phẩm cho lợi nhuận khi mức độ biến động trên thị trường cổ phiếu tăng. Các công ty quản lý quỹ lớn như BlackRock và PIMCO đã bổ sung thêm nghiệp vụ tư vấn cho khách hàng quản lý tài sản thế nào trong trường hợp xấu nhất.

Các quỹ đầu cơ cũng đã nhảy vào cuộc. Vài “quỹ đuôi” (tail funds, tức quỹ đầu tư vào các tài sản sẽ tăng giá khi tình hình kinh tế xấu đi) đã ra đời trong vài năm gần đây.

Các quỹ này trong những năm sóng yên biển lặng thường mất khoảng 15% giá trị nhưng có thể thu lời 50-100% khi thị trường giảm sâu. Mà có thể còn hơn, ví dụ như “quỹ đuôi” của quỹ đầu cơ 36 South cho lợi nhuận tới 234% trong năm 2008.

Theo Gaurav Tejwani từ Pine River (công ty quản lý quỹ đã khai trương “quỹ đuôi” của mình năm ngoái và hiện đang quản lý trên 200 triệu đôla): “Trong phần lớn những năm tốt đẹp hoặc trung bình thì nó chỉ có mất tiền, nhưng khi tất cả các tài sản khác của bạn đều mất giá mạnh thì nó lại cho lợi nhuận tương đối lớn.”

Người bán nói “nó đáng tiền đấy” cũng là điều đương nhiên.

Ông Bhansali từ PIMCO ước tính tự bảo hiểm trước “tail risk” hàng năm chỉ mất của nhà đầu tư 0,5 - 1% tài sản nhưng cứ 3 đến 5 năm là nhà đầu tư này sẽ lại hòa vốn. Phần nào là vì không cần thị trường sụp đổ như hồi năm 2008 tự bảo hiểm mới phát huy tác dụng. Hiện PIMCO đang quản lý khoảng 300 triệu đôla các sản phẩm bảo hiểm “tail risk”.

Các quỹ khác cũng nhận được khá nhiều vốn với chung mục đích này. Ví dụ như Universa Investments, một “quỹ đuôi” có sự tư vấn của Nassim Taleb, tác giả cuốn “Thiên nga đen”. Giá trị tài sản của quỹ này từ 300 triệu đôla năm 2007 tới nay đã tăng lên 6 tỷ đôla.

Dù vậy Chủ tịch Universa, ông Mark Spitznagel, vẫn than phiền về sự tự mãn của giới đầu tư.

Nhu cầu rất thất thường. Chi phí tự bảo hiểm biến động mạnh, thường tăng khi thị trường nhiều bất ổn và giới đầu tư cần nó nhất, và giảm khi thị trường vào đợt tăng giá. Rút cục thì cũng khó mà nuốt trôi được thua lỗ khi tự bảo hiểm nếu thị trường có tăng.

“Bọn trẻ nghịch tuyết ngoài trời mà chẳng cần cả áo len lẫn khăn quàng trông vẫn vui hơn chúng ta ngồi trong này với cả mớ áo dầy bịch chứ,” Steven Englander từ Citigroup nói.

Minh Tuấn
Theo Economist

20.3.10

Báo cáo triển vọng Ngành của CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI

Báo cáo triển vọng Ngành của CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI vừa công bố vào ngày 8/03/2010. Theo đó, trong năm 2010, Bộ phận phân tích SSI vẫn tỏ ra thận trọng về tình hình kinh tế thời hậu khủng hoảng năm 2010, khi Chính phủ một mặt phải bảo đảm tăng trưởng GDP ở mức 6,5% song mặt khác phải cân đối để giữ lạm phát ở mức 7% và điều này có thể dẫn tới những thay đổi trong chính sách vĩ mô.

Thị trường tín dụng sẽ ổn định vào quý 2 và 3 song đến cuối quý 3 có thể trở về trạng thái căng thẳng khi việc phát hành nợ công quy mô lớn có thể làm giảm đáng kể thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất cơ bản có khả năng lên cao nhất ở mức 10% vào cuối năm 2010 và lãi suất cơ bản chỉ còn vai trò là trần lãi suất huy động.

Thị trường chứng khoán có thể bắt đầu một chu kỳ tăng bền vững khi các ngân hàng thu hút đủ nguồn vốn huy động một cách bền vững và lạm phát có dấu hiệu ổn định.

Trong danh sách cổ phiếu thuộc phạm vi nhiên cứu của SSI, ước tính tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của các công ty này lần lượt là 17% và 12%, tăng trưởng EPS sau khi pha loãng trong năm 2010 là -7% và P/E 2010 là 11x. Mức P/E này khá hấp dẫn nếu nhìn vào tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam.

Trong năm 2010, theo SSI, những ngành như ngân hàng, hàng tiêu dùng cơ bản, hàng tiêu dùng không cơ bản và dịch vụ tiêu dùng, thuỷ sản, cao su tự nhiên, công nghệ thông tin, bất động sản là những ngành đáng được cân nhắc đầu tư.

Về triển vọng các ngành năm 2010 có thể được tóm tắt như sau:

Ngành ngân hàng: Với việc được NHNN cho phép cho vay thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn, doanh thu từ lãi vay có thể tăng nhờ tăng trưởng tín dụng ổn định và sự cải thiện trong lợi nhuận lãi biên. Tuy nhiên việc lãi suất cho vay tăng cao có thể dẫn tới việc giảm nhu cầu đi vay và Chính phủ có thể đưa ra các chính sách tiền tệ thắt chặt khi mức tăng trưởng tín dụng đặt ra trong năm 2010 là 25% và khống chế lạm phát 7%. Cổ phiếu ngân hàng là lựa chọn tốt cho đầu tư dài hạn. Các cổ phiếu SSI khuyến nghị là VCB và STB.

Ngành vật liệu xây dựng: Chính phủ vẫn ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng để hu hút đầu tư nước ngoài trong dài hạn nên cầu về vật liệu xây dựng trong năm tới vẫn là rất lớn, tuy nhiên các doanh nghiệp sẽ phải tính đến việc bị cạnh tranh gay gắt và chi phí cố định lớn.

Gạch ngói: Các yếu tố có khả năng hỗ trợ trong năm 2010 là Chính phủ đang nỗ lực loại bỏ các lò sản xuất thủ công và lạc hậu, dẫn tới thiếu hụt cung gạch đất sét nung; gạch granite có tiềm năng lớn cả ở thị trường nội địa và quốc tế. Tuy nhiên các doanh nghiệp trong năm 2010 sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao, và đầu tư của Chính phủ còn hạn chế. Các cổ phiếu được SSI khuyến nghị là VHL, DTC, VIT.

Xi măng: Nhu cầu vẫn lớn do Chính phủ vẫn ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với việc chi phí tăng và rủi ro tỷ giá. Cổ phiếu được khuyến nghị: HOM.

Thép xây dựng: Giá thép có thể thay đổi nhưng vẫn có xu hướng tăng trong khi đó xu hướng phát triển cơ sở hạ tầng vẫn là yếu tố mang tính chiến lược để thu hút đầu tư nước ngoài trong dài hạn nên nhu cầu về thép xây dựng trong các năm tới vẫn rất lớn. Các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh gay gắt. Cổ phiếu khuyến nghị: HPG.

Ống nhựa xây dựng: Ngoài tiềm năng tăng trưởng về nhu cầu đối với ngành xây dựng, ngành ống nhựa có thể tăng giá bán song cùng với đó là chi phí đầu vào tăng (hạt nhựa, điện, chi phí vận chuyển, chi phí vốn..). Cổ phiếu khuyến nghị: NTP.

Than: Giá than quốc tế đang trong xu hướng tăng, giá than trong nước cũng tăng. Tuy nhiên khả năng tăng giá bán than cho ngành điện có thể bị hạn chế; ảnh hưởng bởi chính sách của TKV về định mức lợi nhuận. Các cổ phiếu khuyến nghị: NBC, THT.

Cao su tự nhiên: Thị trường tiêu thụ tốt nhờ có tăng trưởng về nhu cầu cộng với nguồn cung hạn chế; Mức giá rất cao hiện tại và xu hướng giá cao được kỳ vọng là sẽ tiếp tục; Khả năng xuất hiệu yếu tố lợi nhuận bất ngờ.

Các yếu tố bất lợi là VND mất giá; Giảm sản lượng khai thác đối với các công ty niêm yết; Sự phụ thuộc lớn vào giá cao su quốc tế có thể dẫn đến những rủi ro khi có những cú sốc bất ngờ tác động đến thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến giá bán. Cổ phiếu khuyến nghị: DPR, PHR.

Thực phẩm và Đồ uống: Vẫn có thể tăng doanh thu tốt: ngành sữa (15-20%), bánh kẹo (10-15%), dầu thực vật (ít nhất 10%) nhờ việc tăng giá bán lẻ và tăng sản lượng tiêu thụ một cách thuận lợi; Sản phẩm nhập khẩu tiếp tục mất vị thế so với các nhãn hiệu trong nước trong ngành sữa và bánh kẹo; Nỗ lực của Chính phủ để quảng bá các nhãn hiệu nội điạ trong ngành tiêu dùng nhanh.

Bất lợi: Cạnh tranh gay gắt; Biến động của giá nguyên liệu và tỷ giá; Rủi ro về quản lý chất lượng; Nhu cầu về sản phẩm ngọt và hàm lượng chất béo cao đang giảm. Cổ phiếu khuyến nghị: VNM, BBC.

Điện: Không có nhiều yếu tố tích cực trong ngắn hạn trong khi đó các nhà máy hiện tại có ít khả năng tăng công suất; thời gian đầu tư lớn, sản lượng điện phụ thuộc vào sự huy động của EVN hơn là cung-cầu thực sự của thị trường, và EVN vẫn đang giữ vai trò chi phối khi các công ty đàm phán giá bán điện. Cổ phiếu khuyến nghị: VSH.

Thủy sản: Nhu cầu về thuỷ sản trong năm 2010 sẽ tăng cùng với sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, sự mất giá của đồng VND sẽ khiến các doanh nghiệp xuất khẩu thu được khoản lợi; tuy nhiên các doanh nghiệp thủy sản phải đối mặt với tình hình thiếu nguyên liệu chế biến và các quy định về truy xuất nguồn gốc thuỷ sản của EU (IUU), xếp cá tra vào chủng loại catfish tại thị trường Mỹ... Cổ phiếu khuyến nghị: HVG, MPC, ABT.

Ngành vận tải dầu khí: Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận các công ty trong ngành thấp, ROE thấp, không hấp dẫn dưới góc độ tài chính.

Dược: Nhu cầu duy trì tốt, các công ty tích cực trong việc cấu trúc lại sản phẩm theo hướng tăng cường những sản phẩm đem lại tỷ suất lợi nhuận cao. Lạm phát và giá dầu tăng sẽ dẫn đến tăng giá đầu vào trong khi giá bán chịu sự quản lý của nhà nước. Khuyến nghị: DMC, IMP.

Bất động sản: Xu hướng tăng FDI do sự phục hổi ở các nước đầu tư vào Việt Nam; Hà Nội kỷ niệm 1000 năm trong năm 2010: một yếu tố tích cực cho tăng trưởng ngành BĐS; Các “công ty săn đất” đang dư tiền có thể tham gia tich cực hơn khi giá BĐS rơi xuống vùng giá thấp hấp dẫn; Có nhiều tổ chức quan tâm tới thị trường Việt Nam; Rào cản pháp lý cao hơn làm giảm cạnh tranh trong ngành; Lĩnh vực đầu tư truyền thống vào vàng có thể kém hấp dẫn hơn sẽ kéo lại nhà đầu tư về với thị trường BĐS.

Hạn chế: Chính sách tiền tệ chặt chẽ hạn chế hoạt động của nhà đầu cơ, đóng băng giao dịch và đẩy giá BĐS xuống ở nhiều phân khúc; Cạnh tranh gia tăng do có nhiều sản phẩm BĐS được tung ra thị trường ở nhiều phân khúc khác nhau, đẩy giá giảm xuống; Nhiều BĐS đã bị đẩy lên mức giá cao làm nhu cầu bị giảm bớt; Giá BĐS ở VN cao hơn tương đối so với các nước khác làm giảm sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài; Việc đền bù đất mất thời gian và đắt đỏ làm trì hoãn các dự án được phê duyệt; Chi phí tăng. Khuyến nghị: SJS, DIG, BCI, ITC

Vận tải hàng rời: Giá cước và nhu cầu đang tăng trở lại. Tuy nhiên các công ty vẫn phải đối mặt với các khoản nợ lớn bằng USD.

Vận hành cảng: Hoạt động xuất nhập khẩu sôi động trở lại. Đầu tư vào trang thiết bị, tinh giản thủ tục hải quan, giảm thời gian xếp dỡ hàng hoá và tăng công suất thực tế của các cảng. Việc giảm giá đồng VND so với USD, do doanh thu của các doanh nghiệp này đến từ USD quy đổi ra VNĐ. Một số cảng hiện tại bị giới hạn bởi công suất. Khuyến nghị: GMD, VSC.

Công nghệ: Ước tính mức tăng trưởng trong năm 2010 là 30%. Viễn thông: những công ty lớn mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài: doanh thu từ internet băng thông rộng sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn; công nghệ 3G sẽ thúc đẩy nhu cầu phát triển dịch vụ dữ liệu và nội dung số trong dài hạn. Gia công phần mềm: nhu cầu được cải thiện nhờ hồi phục kinh tế.

Hạn chế: Nhu cầu về 3G trong năm 2010 và 2011 vẫn còn khá yếu do phí dịch vụ cao, độ phủ sóng thấp và các dịch vụ gia tăng hạn chế, khiến cho việc đầu tư quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng cho 3G của các công ty viễn thông gặp rủi ro; mở rộng kinh doanh ra nước ngoài làm tăng rủi ro kinh doanh và tăng cạnh tranh. Cạnh tranh trong nước cao hơn trong mảng internet băng thông rộng. Khuyến nghị: FPT.

(Báo cáo chỉ mang tính chất tham khảo)
Download báo cáo tại đây

Phương Mai
Theo SSI

3.1.10

Bạn có biết Q01.2010

Năm 2009 là một năm đáng nhớ, với nhiều biến động thăng trầm trong nền kinh tế. Sự phục hồi của kinh tế trong nước đã diễn ra nhanh hơn dự báo. Tăng trưởng GDP cao hơn mục tiêu đề ra, lạm phát được kiểm soát tương đối thấp, thu hút vốn đầu tư nước ngoài cũng ở mức khá. TTCK Việt Nam phục hồi cùng với sự cải thiện sau suy thoái của nền kinh tế. Cả hai chỉ số VN-Index và HNX-Index bật lại mạnh mẽ với mức tăng trên 50%.
Tính chung cả năm 2009, Việt Nam đạt tốc độ tăng trưởng kinh tế 5,32%.
Ngày 31/12/2009, Bloomberg đã có bài viết đánh giá nền kinh tế Việt Nam đã đạt tốc độ phát triển mạnh nhất trong quý IV/2009. Cụ thể, trong quý IV, tốc độ tăng trưởng Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) tăng thêm 6,9% so với một năm trước.

Bloomberg viết rằng trong thập kỷ vừa qua, đất nước với 86 triệu dân có tốc độ tăng trưởng kinh tế trung bình 7,3%, nâng tổng thu nhập trên đầu người lên vượt mức 1.000 USD.

"Những con số thống kê cho thấy một sự tăng tốc phát triển kinh tế theo từng quý và điều đó thật ấn tượng," ông Lawrence, Giám đốc phát triển kinh doanh tại công ty Dong A Securities đánh giá.

Ông cũng dự đoán mức tăng trưởng 7% trong năm 2010 là hoàn toàn có thể đạt được.

Mặc dù vậy, Bloomberg vẫn cảnh báo nền kinh tế Việt Nam có thể tăng trưởng quá nóng, quá nhanh, dẫn tới nguy cơ lạm phát có thể quay trở lại trong năm 2010.


12.7.09

Dùng “Sóng Elliott và số Fibonacci” để dự đoán xu hướng giá chứng khoán

Dùng “Sóng Elliott và số Fibonacci” để dự đoán xu hướng giá chứng khoán

Bài này thuộc sự kiện/chuyên đề: Kiến thức chứng khoán

Lý Thuyết sóng Elliott:


Nguyên tắc sóng Elliott là một trong những công cụ 
phân tích kỹ thuậtmà một số nhà kinh doanh chứng khoán dùng để phân tích những xu hướng giá trong các thị trường tài chánh. “Cha đẻ” của nguyên tắc này là Ông Ralph Nelson Elliott (1871-1948). Nghề chính của ông là kế tóan và ông đã nghiên cứu và phát triển ra nguyên tắc này vào những năm 30 của thế kỷ trước.

Theo ông Elliott, sự thay đổi của giá cả sẽ tạo ra những cơn sóng, như hình vẽ. Trong đó một cơn sóng cơ bản sẽ có 5 cơn sóng “chủ” và 3 cơn sóng điều chỉnh. Trong 5 con sóng chủ thì sóng số 1, 3 và số 5 gọi là sóng “chủ và động”, và sóng 2, 4 gọi là sóng “chủ và điều chỉnh”. 2 con sóng điểu chỉnh được gọi là sóng A,B, C.

Trong mỗi một con sóng như vậy lại có những con sóng nhỏ và cũng tuân theo quy luật của lý thuyết Elliot. Một đợt sóng chủ hòan chỉnh sẽ có 89 sóng và đợt sóng điều chỉnh hòan chỉnh sẽ có 55 sóng.

Tùy theo thời gian độ lớn của sóng sẽ được phân theo thứ tự sau
  • Grant Supercycle: sóng kéo dài nhiều thập kỹ, đôi khi cả thế kỹ
  • Supercycle: kéo dài từ vài năm đến vài thập kỹ
  • Cycle: kéo dài từ 1 đến vài năm
  • Primary: kéo dài từ vài tháng đến vài năm
  • Intermediate: kéo dài từ vài từ tuần đến vài tháng
  • Minor: kéo dài trong vài tuần
  • Minute: Kéo dài trong vài ngày
  • Minuette: Kéo dài trong vài giờ.
  • Subminutte: Kéo dài trong vài phút.
Elliott_wave.png
 

Dãy số Fibonacci

Dãy số do nhà tóan học người Ý Leonardo Fibonacci (1175-1250) phát minh ra. Bắt đầu là số 0 và số 1, sau đó là những số kế tiếp được tạo ra bằng cách công 2 số đứng trước. Ví dụ 1 = 1+0, 5 = 3+2, 34=21+13. Điều kỳ diệu hơn là cứ lấy số lớn chia cho số nhỏ hơn một bậc , ví dụ 89/55 ta sẽ được 1.618; lấy số nhỏ chia cho số lớn hơn 1 bậc, ví dụ 21/34 ta sẻ được 0.6180, lấy số nhỏ chia cho số lớn hơn 2 bậc, ví dụ 13/34 ta sẽ được 0.382.

Tất cả các con số thuộc dãy số Fibonacci 0, 1, 1, 2, 3, 5, 8 …và các con số 0.618 và 0.382, trong đó đặc biệt nhất là con số được mệnh danh là “tỷ lệ vàng” 1.618  - xuất hiện rất nhiều trong tự nhiên, trong cơ thề con người, trong vũ trụ, trong kiến trúc, xây dựng.

Quan trọng hơn đối với chúng ta những nhà 
đầu tư, kinh doanh chứng khoán, những con số “đầy ma lực trên” bên trên xuất hiên ngay trong thị truờng tài chánh, nhất là những biến động về giá cả.

Ralph Nelson Elliott khẳng định rằng ông nghiên cứu và phát mình ra lý thuyết sóng truớc khi biết Fibonacci nhưng những con số trùng hợp đến kỳ lại: 5 sóng chủ, 3 sóng điều chỉnh, 89  sóng chủ, 55 sóng điều chỉnh cũng như tỷ lệ giá của các con sóng luôn ở chung quanh các tỷ lệ vàng 0.618, 1.618, 0.328. Do đó có một giá thuyết khác cho rằng Ông Elliott đã ứng dụng những con số Fibonacci vào lý thuyết của mình. 

Dãy số Fibonacci

Số lớn/chia cho số nhỏ hơn 1 bậc

Số nhỏ/chia cho số lớn hơn 1 bậc

Số nhỏ/chia cho số lớn hơn 2 bậc

0

 

 

 

1

 

 

 

1

 

 

 

2

 

 

 

3

 

 

 

5

 

 

 

8

 

 

 

13

1.6250

    0.6154

0.3810

21

1.6154

    0.6190

0.3824

34

1.6190

    0.6176

0.3818

55

1.6176

    0.6182

0.3820

89

1.6182

    0.6180

0.3819

144

1.6180

    0.6181

0.3820

233

1.6181

    0.6180

0.3820

377

1.6180

    0.6180

0.3820

610

1.6180

    0.6180

0.3820

987

1.6180

    0.6180

 



Một dãy sóng 5-3 điển hình trong thị truờng tăng trường “bò húc”

Dưới đây là phân tích một con sóng 5-3 điển hình của thị trường trong giai đọan tăng trưởng - “bò húc”. Cũng con sóng 5-3 này trong Thị trường suy thóai – “gấu ngủ” sẽ được vẽ hòan tòan ngược lại.

Sóng chủ số 1. Đợt sóng đầu tiên này là có điểm xuất phát từ thị truờng con gấu (suy thóai), do đó sóng 1 ít khi được nhận biết ngay từ đầu. Lúc này  thông tin cơ bản về các công ty niêm uớc vẫn đang là thông tin tiêu cực. Chiều hướng của thị trường trước khi sóng 1 xảy ra chủ yếu vẫn là thị truờng suy thoái. Những nhà phân tích cơ bản vẫn đang tiếp tục điều chỉnh thu nhập kỳ vọng thấp xuống so với dự kiến. Khối lương giao dịch có tăng chút ít theo chiều hướng giá tăng. Tuy vậy việc tăng này là không đáng kể. Do đó nhiều nhà phân tích kỹ thuật không nhận ra sự có mặt của đợt sóng số 1 này.

Sóng chủ  số 2. Sóng chủ 2 sẽ điều chỉnh sóng 1, nhưng điểm thấp nhất của sóng 2 không bao giờ vượt qua điểm xuất phát đầu tiên của sóng 1. Tin tức dành cho thị trường vẫn chưa khả quan. Thị trường đi xuống ở cuối sóng 2 để thực hiện việc “kiểm tra” độ thấp của thị trường. Những người theo phái con gấu vẫn đang tin rằng thị trường con gấu vẫn đang ngự trị. Khối lượng giao dịch sẽ ít hơn đợt sóng 1. Giá sẽ được điều chỉnh giảm và thuờng nằm trong khoảng 0.382 đến 0.618 của mức cao nhất của sóng 1.

Sóng chủ số 3. Thông thường đây là sóng lớn nhất và mạnh mẽ nhất của xu hướng lên giá. Ngay đầu sóng 3, thị trường vẫn còn nhận những thông tin tiêu cực vì vậy có nhiều nhà kinh doanh không kịp chuẩn bị để mua vào. Khi sóng 3 đang ở lưng chừng, thị trường bắt đầu nhận những thông tin cơ bản tích cực và những nhà phân tích cơ bản bắt đầu điều chỉnh thu nhập kỳ vọng. Mặc dù có những đợt điều chỉnh nho nhỏ trong lòng của sóng 3, giá của sóng 3 tăng lên với tốc độ khá nhanh. Điểm cao nhất của sóng 3 thường cao hơn điểm cao nhất của sóng 1 với tỷ lệ 1,618:1

Sóng chủ số 4. Đây thật sự là một con sóng điều chỉnh. Giá có khuynh hướng đi xuống và đôi khi có thể răng cưa kéo dài. Sóng 4 thường sẽ điều chỉnh sóng 3 với mức 0.382 – 0.618 của sóng 3. Khối lượng giao dịch của sóng 4 thấp hơn của sóng 3. Đây là thời điểm để mua vào nếu như nhà kinh doanh nhận biết được tiềm năng tiếp diễn liền sau đó của con sóng 5. Tuy vậy việc nhận biết điểm dừng của sóng 4 là một trong những khó khăn của các nhà phân tích kỹ thuật trường phái sóng Elliot.

Sóng chủ số  5. Đây là đợt sóng cuối cùng của 5 con sóng “chủ”. Thông tin tích cực tràn lan khắp thị trường và ai cũng tin rằng thị trường đang ở trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch của sóng 5 khá lớn , tuy vậy thông thường vẫn nhỏ hơn sóng 3. Điều đáng nói là những nhà kinh doanh “không chuyên nghiệp” thường mua vào ở những điểm gần cuối sóng 5. Vào cuối con sóng 5, thị trường nhanh chóng chuyển hướng. 

Sóng điều chỉnh A. Sóng này bắt đầu cho đợt sóng điều chỉnh A,B,C. Trong thời gian diễn ra sóng A, thông tin cơ bản vẫn đang rất lạc quan. Mặc dù giá xuống, nhưng phần đông các nhà kinh doanh vẫn cho rằng thị trường đang trong thế bò húc. Khối lượng giao dịch tăng trưởng khá đều đặn theo con sóng A.

Sóng điều chỉnh B. Giá tăng trở lại và với mức cao hơn so với điểm cuối sóng A. Sóng B được xem là điểm kéo dài của thị trường bò húc. Đối với những người theo trường phái phân tích kỹ thuật cổ điển, điểm B chính là vai phải của đồ thị Đầu và Vai ngược. Khối lượng giao dịch của sóng B thường thấp hơn của sóng A. Vào lúc này, những thông tin cơ bản của các công ty không có những điểm tích cực mới, thế nhưng cũng chưa chuyển hẳn qua tiêu cực.

Sóng điều chỉnh C. Giá có khuynh hương giảm nhanh hơn các đợt sóng trước. Khối luợng giao dịch tăng. Hầu như tất cả mọi nhà kinh doanh, đầu tư đều nhận thấy rõ sự ngự trị của “gấu ngủ”  trên thị trường, chậm nhất là trong đợt sóng nhỏ thứ 3 của sóng C.  Sóng C thường lớn như sóng A. Điểm thấp nhất của sóng C ít nhất bằng điểm thấp nhất của sóng A nhân với 1.618.

Elliott_wave.jpg
Thay cho lời kết:

Tuy Lý thuyết sóng Elliott kết hợp với dãy số Fibonacci bị một số chỉ trích phê bình, nó vẫn được rất nhiều nhà nghiên cứu và kinh doanh các sản phẩm tài chánh cổ vũ và sử dụng trong việc phân tích giá. Và ngày nó càng trở nên phổ biến vì sự chính xác đôi khi đến bất ngờ của nó. Trong hội thảo đầu tư tài chánh châu Á, ngày 26/7/2007 tại Thành Phố Hồ Chí Minh, ông Joe DiNapoli, một chuyên gia về kỹ thuật Fibonacci đã chứng minh rằng trong năm v ừa rồi, có hai con sóng của VNIndex đã theo đúng các con số Fibonacci. Dĩ nhiên chúng ta có thể tìm ra thêm nhiều chứng cớ xác thực của VNIndex cho “lý thuyết sóng Elliott kết hợp với Fibonacci”.  Điều đó cũng giống như nhiều dụng cụ phân tích kỹ thuật khác: khá chính xác khi chứng minh quá khứ, nhưng chính xác “vừa phải” khi dự đoán tương lai. Do đó khi xử dụng lý thuyết trên cũng như bất cứ phương pháp/dụng cụ phân tích kỹ  thuật nào khác, chúng ta phải hết sức thận trọng, sáng suốt và quan trọng hơn hết là chuẩn bị chấp nhận một mức độ  rủi ro nhất định.

========
Bài viết www.saga.vn hợp tác với ĐTCK online