Showing posts with label 5. NGÀNH KINH TẾ. Show all posts
Showing posts with label 5. NGÀNH KINH TẾ. Show all posts

20.3.10

Báo cáo triển vọng Ngành của CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI

Báo cáo triển vọng Ngành của CTCP Chứng khoán Sài Gòn SSI vừa công bố vào ngày 8/03/2010. Theo đó, trong năm 2010, Bộ phận phân tích SSI vẫn tỏ ra thận trọng về tình hình kinh tế thời hậu khủng hoảng năm 2010, khi Chính phủ một mặt phải bảo đảm tăng trưởng GDP ở mức 6,5% song mặt khác phải cân đối để giữ lạm phát ở mức 7% và điều này có thể dẫn tới những thay đổi trong chính sách vĩ mô.

Thị trường tín dụng sẽ ổn định vào quý 2 và 3 song đến cuối quý 3 có thể trở về trạng thái căng thẳng khi việc phát hành nợ công quy mô lớn có thể làm giảm đáng kể thanh khoản của hệ thống ngân hàng, lãi suất cơ bản có khả năng lên cao nhất ở mức 10% vào cuối năm 2010 và lãi suất cơ bản chỉ còn vai trò là trần lãi suất huy động.

Thị trường chứng khoán có thể bắt đầu một chu kỳ tăng bền vững khi các ngân hàng thu hút đủ nguồn vốn huy động một cách bền vững và lạm phát có dấu hiệu ổn định.

Trong danh sách cổ phiếu thuộc phạm vi nhiên cứu của SSI, ước tính tăng trưởng doanh thu và lợi nhuận sau thuế của các công ty này lần lượt là 17% và 12%, tăng trưởng EPS sau khi pha loãng trong năm 2010 là -7% và P/E 2010 là 11x. Mức P/E này khá hấp dẫn nếu nhìn vào tiềm năng tăng trưởng của Việt Nam.

Trong năm 2010, theo SSI, những ngành như ngân hàng, hàng tiêu dùng cơ bản, hàng tiêu dùng không cơ bản và dịch vụ tiêu dùng, thuỷ sản, cao su tự nhiên, công nghệ thông tin, bất động sản là những ngành đáng được cân nhắc đầu tư.

Về triển vọng các ngành năm 2010 có thể được tóm tắt như sau:

Ngành ngân hàng: Với việc được NHNN cho phép cho vay thỏa thuận đối với các khoản vay trung và dài hạn, doanh thu từ lãi vay có thể tăng nhờ tăng trưởng tín dụng ổn định và sự cải thiện trong lợi nhuận lãi biên. Tuy nhiên việc lãi suất cho vay tăng cao có thể dẫn tới việc giảm nhu cầu đi vay và Chính phủ có thể đưa ra các chính sách tiền tệ thắt chặt khi mức tăng trưởng tín dụng đặt ra trong năm 2010 là 25% và khống chế lạm phát 7%. Cổ phiếu ngân hàng là lựa chọn tốt cho đầu tư dài hạn. Các cổ phiếu SSI khuyến nghị là VCB và STB.

Ngành vật liệu xây dựng: Chính phủ vẫn ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng để hu hút đầu tư nước ngoài trong dài hạn nên cầu về vật liệu xây dựng trong năm tới vẫn là rất lớn, tuy nhiên các doanh nghiệp sẽ phải tính đến việc bị cạnh tranh gay gắt và chi phí cố định lớn.

Gạch ngói: Các yếu tố có khả năng hỗ trợ trong năm 2010 là Chính phủ đang nỗ lực loại bỏ các lò sản xuất thủ công và lạc hậu, dẫn tới thiếu hụt cung gạch đất sét nung; gạch granite có tiềm năng lớn cả ở thị trường nội địa và quốc tế. Tuy nhiên các doanh nghiệp trong năm 2010 sẽ phải chịu chi phí lãi vay cao, và đầu tư của Chính phủ còn hạn chế. Các cổ phiếu được SSI khuyến nghị là VHL, DTC, VIT.

Xi măng: Nhu cầu vẫn lớn do Chính phủ vẫn ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng, tuy nhiên doanh nghiệp sẽ phải đối mặt với việc chi phí tăng và rủi ro tỷ giá. Cổ phiếu được khuyến nghị: HOM.

Thép xây dựng: Giá thép có thể thay đổi nhưng vẫn có xu hướng tăng trong khi đó xu hướng phát triển cơ sở hạ tầng vẫn là yếu tố mang tính chiến lược để thu hút đầu tư nước ngoài trong dài hạn nên nhu cầu về thép xây dựng trong các năm tới vẫn rất lớn. Các doanh nghiệp sẽ phải cạnh tranh gay gắt. Cổ phiếu khuyến nghị: HPG.

Ống nhựa xây dựng: Ngoài tiềm năng tăng trưởng về nhu cầu đối với ngành xây dựng, ngành ống nhựa có thể tăng giá bán song cùng với đó là chi phí đầu vào tăng (hạt nhựa, điện, chi phí vận chuyển, chi phí vốn..). Cổ phiếu khuyến nghị: NTP.

Than: Giá than quốc tế đang trong xu hướng tăng, giá than trong nước cũng tăng. Tuy nhiên khả năng tăng giá bán than cho ngành điện có thể bị hạn chế; ảnh hưởng bởi chính sách của TKV về định mức lợi nhuận. Các cổ phiếu khuyến nghị: NBC, THT.

Cao su tự nhiên: Thị trường tiêu thụ tốt nhờ có tăng trưởng về nhu cầu cộng với nguồn cung hạn chế; Mức giá rất cao hiện tại và xu hướng giá cao được kỳ vọng là sẽ tiếp tục; Khả năng xuất hiệu yếu tố lợi nhuận bất ngờ.

Các yếu tố bất lợi là VND mất giá; Giảm sản lượng khai thác đối với các công ty niêm yết; Sự phụ thuộc lớn vào giá cao su quốc tế có thể dẫn đến những rủi ro khi có những cú sốc bất ngờ tác động đến thị trường và ảnh hưởng tiêu cực đến giá bán. Cổ phiếu khuyến nghị: DPR, PHR.

Thực phẩm và Đồ uống: Vẫn có thể tăng doanh thu tốt: ngành sữa (15-20%), bánh kẹo (10-15%), dầu thực vật (ít nhất 10%) nhờ việc tăng giá bán lẻ và tăng sản lượng tiêu thụ một cách thuận lợi; Sản phẩm nhập khẩu tiếp tục mất vị thế so với các nhãn hiệu trong nước trong ngành sữa và bánh kẹo; Nỗ lực của Chính phủ để quảng bá các nhãn hiệu nội điạ trong ngành tiêu dùng nhanh.

Bất lợi: Cạnh tranh gay gắt; Biến động của giá nguyên liệu và tỷ giá; Rủi ro về quản lý chất lượng; Nhu cầu về sản phẩm ngọt và hàm lượng chất béo cao đang giảm. Cổ phiếu khuyến nghị: VNM, BBC.

Điện: Không có nhiều yếu tố tích cực trong ngắn hạn trong khi đó các nhà máy hiện tại có ít khả năng tăng công suất; thời gian đầu tư lớn, sản lượng điện phụ thuộc vào sự huy động của EVN hơn là cung-cầu thực sự của thị trường, và EVN vẫn đang giữ vai trò chi phối khi các công ty đàm phán giá bán điện. Cổ phiếu khuyến nghị: VSH.

Thủy sản: Nhu cầu về thuỷ sản trong năm 2010 sẽ tăng cùng với sự phục hồi của nền kinh tế toàn cầu, sự mất giá của đồng VND sẽ khiến các doanh nghiệp xuất khẩu thu được khoản lợi; tuy nhiên các doanh nghiệp thủy sản phải đối mặt với tình hình thiếu nguyên liệu chế biến và các quy định về truy xuất nguồn gốc thuỷ sản của EU (IUU), xếp cá tra vào chủng loại catfish tại thị trường Mỹ... Cổ phiếu khuyến nghị: HVG, MPC, ABT.

Ngành vận tải dầu khí: Nhà máy lọc dầu Dung Quất đi vào hoạt động. Tuy nhiên, tỷ suất lợi nhuận các công ty trong ngành thấp, ROE thấp, không hấp dẫn dưới góc độ tài chính.

Dược: Nhu cầu duy trì tốt, các công ty tích cực trong việc cấu trúc lại sản phẩm theo hướng tăng cường những sản phẩm đem lại tỷ suất lợi nhuận cao. Lạm phát và giá dầu tăng sẽ dẫn đến tăng giá đầu vào trong khi giá bán chịu sự quản lý của nhà nước. Khuyến nghị: DMC, IMP.

Bất động sản: Xu hướng tăng FDI do sự phục hổi ở các nước đầu tư vào Việt Nam; Hà Nội kỷ niệm 1000 năm trong năm 2010: một yếu tố tích cực cho tăng trưởng ngành BĐS; Các “công ty săn đất” đang dư tiền có thể tham gia tich cực hơn khi giá BĐS rơi xuống vùng giá thấp hấp dẫn; Có nhiều tổ chức quan tâm tới thị trường Việt Nam; Rào cản pháp lý cao hơn làm giảm cạnh tranh trong ngành; Lĩnh vực đầu tư truyền thống vào vàng có thể kém hấp dẫn hơn sẽ kéo lại nhà đầu tư về với thị trường BĐS.

Hạn chế: Chính sách tiền tệ chặt chẽ hạn chế hoạt động của nhà đầu cơ, đóng băng giao dịch và đẩy giá BĐS xuống ở nhiều phân khúc; Cạnh tranh gia tăng do có nhiều sản phẩm BĐS được tung ra thị trường ở nhiều phân khúc khác nhau, đẩy giá giảm xuống; Nhiều BĐS đã bị đẩy lên mức giá cao làm nhu cầu bị giảm bớt; Giá BĐS ở VN cao hơn tương đối so với các nước khác làm giảm sự hấp dẫn đối với nhà đầu tư nước ngoài; Việc đền bù đất mất thời gian và đắt đỏ làm trì hoãn các dự án được phê duyệt; Chi phí tăng. Khuyến nghị: SJS, DIG, BCI, ITC

Vận tải hàng rời: Giá cước và nhu cầu đang tăng trở lại. Tuy nhiên các công ty vẫn phải đối mặt với các khoản nợ lớn bằng USD.

Vận hành cảng: Hoạt động xuất nhập khẩu sôi động trở lại. Đầu tư vào trang thiết bị, tinh giản thủ tục hải quan, giảm thời gian xếp dỡ hàng hoá và tăng công suất thực tế của các cảng. Việc giảm giá đồng VND so với USD, do doanh thu của các doanh nghiệp này đến từ USD quy đổi ra VNĐ. Một số cảng hiện tại bị giới hạn bởi công suất. Khuyến nghị: GMD, VSC.

Công nghệ: Ước tính mức tăng trưởng trong năm 2010 là 30%. Viễn thông: những công ty lớn mở rộng hoạt động kinh doanh ra nước ngoài: doanh thu từ internet băng thông rộng sẽ chiếm tỷ trọng lớn hơn; công nghệ 3G sẽ thúc đẩy nhu cầu phát triển dịch vụ dữ liệu và nội dung số trong dài hạn. Gia công phần mềm: nhu cầu được cải thiện nhờ hồi phục kinh tế.

Hạn chế: Nhu cầu về 3G trong năm 2010 và 2011 vẫn còn khá yếu do phí dịch vụ cao, độ phủ sóng thấp và các dịch vụ gia tăng hạn chế, khiến cho việc đầu tư quy mô lớn vào cơ sở hạ tầng cho 3G của các công ty viễn thông gặp rủi ro; mở rộng kinh doanh ra nước ngoài làm tăng rủi ro kinh doanh và tăng cạnh tranh. Cạnh tranh trong nước cao hơn trong mảng internet băng thông rộng. Khuyến nghị: FPT.

(Báo cáo chỉ mang tính chất tham khảo)
Download báo cáo tại đây

Phương Mai
Theo SSI

4.4.09

Định hướng quy hoạch hệ thống Hàng không và đường thuỷ TP.HCM 2020

Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất đến năm 2020 sẽ trở thành điểm trung chuyển hàng không của khu vực và thế giới.

Sân bay Tân Sơn Nhất sẽ được cải tạo, nâng cấp để đến năm 2010 đạt công suất 9 triệu hành khách/năm, năm 2020 đạt công suất 20 triệu hành khách/năm;

Lập dự án đầu tư xây dựng cảng hàng không quốc tế Long Thành, tỉnh Đồng Nai để có thể triển khai xây dựng sau năm 2010; xây dựng sân bay Gò Găng Vũng Tàu (Bà Rịa - Vũng Tàu); nâng cấp sân bay Cỏ Ống Côn Đảo (Bà Rịa - Vũng Tàu).

Xây dựng sân bay trực thăng trong đô thị phục vụ cấp cứu khẩn cấp, về lâu dài sử dụng trong giao thông công cộng.

Hệ thống cảng biển: xây dựng mạng lưới cảng biển trong vùng phù hợp với quy hoạch chi tiết Nhóm cảng biển khu vực thành phố Hồ Chí Minh - Đồng Nai - Bà Rịa - Vũng Tàu (Nhóm số 5).

Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập Ban Chỉ đạo quy hoạch và đầu tư xây dựng vùng thành phố Hồ Chí Minh để chỉ đạo, tổ chức nghiên cứu chính sách, cơ chế và chiến lược phát triển đô thị toàn vùng cho phù hợp với tầm nhìn lâu dài, phối hợp việc điều chỉnh phát triển các vùng kinh tế trọng điểm để bảo đảm phát triển bền vững cho toàn vùng.

Ủy ban nhân dân thành phố Hồ Chí Minh và Ủy ban nhân dân các tỉnh trong vùng tổ chức rà soát, điều chỉnh hoặc kiến nghị Thủ tướng Chính phủ điều chỉnh những đồ án quy hoạch xây dựng, dự án đầu tư đã được phê duyệt nhưng không còn phù hợp, bao gồm: quy hoạch chung các thành phố trung tâm tỉnh lỵ, các khu đô thị mới, các khu công nghiệp tập trung.

Bộ Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với Bộ Xây dựng và Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trong vùng lập quy hoạch giao thông vận tải vùng thành phố Hồ Chí Minh.

Đặc biệt là phát triển hệ thống giao thông vận tải hành khách công cộng trong vùng hiện đại, hợp lý nhằm giảm thiểu ùn tắc giao thông của thành phố Hồ Chí Minh, trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt.

Bá Minh

30.1.09

Canh tân công nghệ thời suy thoái

(TBVTSG) - Các công ty biết sử dụng nguồn lực một cách khoa học và hiệu quả sẽ có khả năng gặt hái thành công giữa thời suy thoái kinh tế. Công thức mà họ theo đuổi cũng có thể giúp ích cho bạn.

Hãy tận dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin để phát triển quan hệ với khách hàng, vừa nhanh chóng, thuận tiện vừa ít tốn kém so với các phương pháp truyền thống.

Đối với cộng đồng doanh nghiệp thế giới, những biến cố trong hai tháng cuối năm 2008 báo hiệu một năm mới âm u và lạnh giá. Các đại gia trên sàn chứng khoán sụp đổ, các nhà máy công nghiệp giảm sản lượng và sa thải công nhân, người tiêu dùng hoảng hốt; ai cũng thắt lưng buộc bụng, cân nhắc chi tiêu trong lúc chờ trời sáng trở lại. Có vẻ như mọi ý tưởng canh tân sẽ rơi vào tình trạng “đắp chiếu” một thời gian dài nữa.

Nhưng không hẳn là như vậy. Hãy xem tác động của những trận cháy rừng. Cháy rừng tất nhiên là tai họa, nhưng sau vụ cháy, đất đai sẽ màu mỡ hơn, nuôi lớn một thế hệ cây cối mới vững mạnh hơn. Đám cháy còn xóa đi những thân gỗ mục, những bụi gai rối rắm kìm hãm tăng trưởng. Các loài cây cần ánh nắng mặt trời để phát triển sẽ có môi trường để vươn cao.

Trong xã hội cũng vậy. Chúng ta thấy ba loại công ty dưới đây sẽ có cơ hội phát triển trong những điều kiện ảm đạm của nền kinh tế. Mỗi công ty trong số này đều có thể hưởng lợi từ những thay đổi mang tính chiến lược dựa trên lợi thế cạnh tranh riêng của mình.

Những công ty “nổi loạn”

Những công ty có công nghệ mới lâu nay vẫn lặng lẽ đi bên lề của thị trường có thể tận dụng sự sụp đổ của các đại gia để nhảy vào dòng chính. Trong quá khứ, cuộc bùng vỡ bong bóng công ty dot-com đã làm cho nhiều tập đoàn công nghệ thông tin phải “nín thở” một thời gian dài. Nhưng đó cũng chính là lúc “những kẻ nổi loạn” như Google, Netflix… vùng lên, trở thành những thương hiệu lớn.

Nhớ lại chuyện cũ, chúng ta sẽ tự hỏi, đâu là làn sóng mới của “những kẻ nổi loạn” sẽ trào dâng lên trong cuộc suy thoái kinh tế hôm nay. Loại doanh nghiệp có triển vọng tăng trưởng mạnh nhất là những công ty công nghệ sạch (clean-tech) đang đưa ra những giải pháp mới về năng lượng như tập đoàn Enernoc, First Solar, Konarka và Best Place… Những tập đoàn lớn canh tân công nghệ để làm ra sản phẩm giá rẻ như General Electric (GE) – mà sản phẩm tiêu biểu là máy siêu âm màu giá rẻ - cũng sẽ giành được lợi thế trên thị trường.

Những công ty đang đứng trên bờ vực tan rã có thể cải thiện cơ hội thành công của mình qua việc tập trung vào những chiến lược mà các doanh nghiệp “nổi loạn” đang thực hiện. Điểm quan trọng cần chú ý: các quyết định liên quan đến chất lượng sản phẩm phải được ưu tiên hàng đầu; và phải tập trung tìm hiểu xem khách hàng định nghĩa thế nào là chất lượng. Trong lúc khó khăn, điều thiết yếu là phải tránh làm ra những sản phẩm quá rắc rối về công nghệ, nhiều chức năng hiện đại nhưng xa lạ với người tiêu dùng.

Sự siết chặt tín dụng của thị trường tài chính toàn cầu sẽ làm cho các doanh nghiệp khó tìm nguồn vốn, vì vậy tiết giảm chi phí là yêu cầu cần tính đến. Hãy tận dụng những tiến bộ của công nghệ thông tin để phát triển quan hệ với khách hàng, vừa nhanh chóng, thuận tiện vừa ít tốn kém so với các phương pháp truyền thống. Ví dụ, thay vì gửi hàng mẫu cho khách hãy làm ra “hàng mẫu ảo”, nghiên cứu thị trường bằng phương thức trực tuyến và xây dựng hệ thống phân phối qua Internet.

Những doanh nghiệp canh tân có hệ thống

Trong thời suy thoái, các tập đoàn công nghệ thực hiện chiến lược canh tân có hệ thống có thể tăng tỷ lệ tăng trưởng lên gấp đôi các đối thủ cạnh tranh. Trên thị trường toàn cầu, các tập đoàn Procter & Gamble (P&G), Johnson & Johnson, GE, Cisco và IBM đều đã cam kết công khai nhắm tới tăng trưởng thông qua canh tân công nghệ.

Tất cả những tập đoàn này đều coi canh tân là một bộ phận thiết yếu trong quy trình hoạt động của doanh nghiệp. Họ đặt ra mục tiêu canh tân, đo lường việc thực hiện, bố trí nguồn lực và tích cực quản lý các danh mục dự án đầu tư cải tiến công nghệ.

Cho dù những tập đoàn này – nhất là GE – có bị ảnh hưởng bởi tình trạng rối loạn thị trường gần đây, việc tập trung vào canh tân công nghệ như một hoạt động chính đang giúp cho họ vượt lên, liên tiếp tạo ra những làn sóng tăng trưởng mang lại doanh thu cao.

Tuy vậy, những công ty hệ thống hóa sự canh tân cũng cần phải rà soát lại danh mục dự án của mình và tự trả lời những câu hỏi như: Chúng ta đã có đủ dự án chưa? Nếu một nửa số dự án hiện nay thất bại thì chúng ta có đạt được chỉ tiêu về doanh số và lợi nhuận không? Những ý tưởng nào cần được thúc đẩy, trì hoãn, hay loại bỏ? Các dự án trong danh mục đầu tư của chúng ta có sự khác biệt về nội dung mang tầm chiến lược hay không?

Những công ty tái cấu trúc

Loại cuối cùng trong những doanh nghiệp có khả năng hưởng lợi từ cuộc suy thoái kinh tế này bao gồm những công ty biết tận dụng mọi điều kiện để gia tăng những nỗ lực thay đổi thật sự theo bước đi của thị trường mà không đánh mất quyền kiểm soát. Một vấn đề cần phải thúc đẩy: mạnh dạn chấm dứt những hoạt động kinh doanh nào không còn mang lại hiệu quả.

Chúng ta nên chủ động thu gọn danh mục đầu tư của công ty trước khi thị trường buộc chúng ta phải làm điều đó. Cần phải thừa nhận rằng, cuộc suy thoái kinh tế là chiếc đòn bẩy tuyệt vời để cắt giảm những xí nghiệp, dây chuyền sản xuất, thương hiệu và những dự án gần hết hạn tồn tại hoặc không mang lại hiệu quả kinh tế mà còn “ăn theo” thành quả của các bộ phận khác.

Tuy vậy, nhà quản trị cần bảo đảm sẽ không vô tình dẹp bỏ những xí nghiệp, sản phẩm có tiềm năng sinh lợi hoặc chưa khai thác đầy đủ. Cần phải rà soát cẩn thận xem đơn vị kinh doanh đó, thương hiệu đó có còn “không gian” để mở rộng trong tương lai hay không, chúng có những tài sản nào có thể mở vào các thị trường mới hay không.

Cho dù kinh tế suy thoái thì các nguyên tắc cơ bản để tạo ra những doanh nghiệp tăng trưởng mạnh cũng vẫn không thay đổi: tìm ra những vấn đề chưa được giải quyết thấu đáo, tìm ra một giải pháp mà người tiêu dùng đánh giá là tốt hơn so với những giải pháp hiện hành, xây dựng một mô hình kinh tế, một kế hoạch phát triển bền vững và hấp dẫn.

Quả thật là môi trường kinh doanh đang ngày càng khó khăn hơn, những rào cản trên đường tới thành công ngày càng cao hơn, nhưng trong gian nguy vẫn có những cơ hội lớn đang chờ những người năng động phát hiện ra và nắm bắt.

HUỲNH HOA (BusinessWeek)

16.11.08

Khi ngành than nhập cuộc đua tăng giá


Theo kế hoạch mới của TKV, kể từ 1/7/2008, giá bán than cho tổng công ty xi măng và tổng công ty giấy sẽ tăng lên cho sát giá thị trường.

Bốn “ông lớn” gồm Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Xi măng, Tổng công ty Hoá chất (Vinachem), Tổng công ty Giấy đang lo sốt vó trước việc Tập đoàn Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) sẽ tăng giá từ 1/7/2008.

Hiện giá bán than cho bốn "ông lớn" nói trên đã được điều chỉnh tăng 20 – 70% so với giá áp dụng trước đó. Nhưng mức giá này vẫn còn bao cấp, thấp hơn mức giá mà TKV bán ra cho các khách hàng khác trong thị trường nội địa 20 – 30%, và chỉ bằng 50% giá than xuất khẩu.

Đẩy chi phí

Theo kế hoạch mới của TKV, kể từ 1/7/2008, giá bán than cho tổng công ty xi măng và tổng công ty giấy sẽ tăng lên cho sát giá thị trường. Giá bán than cho EVN cũng tăng theo lộ trình tăng giá điện.

Tức là từ 1/7 tới, nếu giá bán điện tăng theo lộ trình đã được thủ tướng duyệt thì TKV cũng tự động điều chỉnh giá than lên cho bằng mức giá thị trường. Tổng công ty Phân bón phải chịu tăng giá, và sẽ tăng dần lên, tiệm cận giá thị trường.

Theo ông Đoàn Văn Kiển, Chủ tịch Hội đồng Quản trị của TKV thì việc tăng giá than là điều tất yếu và cũng nhằm thực hiện chỉ đạo của chính phủ là đưa giá bán than lên đến mức hợp lý, phản ánh được đúng chi phí sản xuất.

Trong các buổi họp với TKV gần đây, đại diện của các doanh nghiệp trong ngành hoá chất, giấy, xi măng, điện đều bày tỏ sự lo ngại về mức giá than tăng sẽ làm tăng chi phí của các doanh nghiệp này lên rất cao.

Ví dụ, Công ty TNHH Một thành viên Phân đạm và Hoá chất Hà Bắc lên kế hoạch sản xuất năm 2008 là 173.500 tấn urê. Nhưng giá than tăng lên như than cục xô tăng tới 46%, than cám 4b tăng 21%... thì giá thành sản xuất urê của công ty này tăng 444.000 đồng/tấn sản phẩm, ước tính chi phí tăng 77 tỉ đồng/năm.

Công ty Phân lân nung chảy Văn Điển cũng cho biết, giá thành sản xuất phân lân nung chảy sẽ tăng thêm 153.860 đồng/tấn và tổng chi phí cả năm tăng thêm do giá than sẽ lên tới gần 42 tỉ đồng.

Tác động dây chuyền

Ông Hoàng Mạnh Tiến, Trưởng ban Kế hoạch kinh doanh Vinachem nói: “Các doanh nghiệp sản xuất phân bón khó lòng cầm cự được khi giá bán than tăng nhanh như vậy và chúng tôi cũng buộc phải nâng giá phân bón lên. Giá phân bón tăng thì chắc chắn sản phẩm nông nghiệp cũng sẽ tăng theo”.

Trong tờ trình mới đây về đề nghị tăng giá bán điện, ngoài nguyên nhân giá dầu tăng, EVN cũng đưa ra một nguyên nhân lớn khác là do giá than tăng từ 1/7/2008. Các tổng công ty còn lại cũng nhanh chóng xác nhận việc tăng giá bán mỗi khi TKV áp dụng mức giá bán mới.

Ví dụ, do giá bán than cho xi măng tăng từ 1/1/2008, các doanh nghiệp thuộc tổng công ty xi măng cũng đã tăng giá mỗi tấn xi măng lên 30.000 đồng và thông báo sẽ tăng tiếp khi than lên giá. “Theo tôi, không chỉ xi măng, phân bón hay giấy, cùng với việc giá điện, than tăng vào 1/7 tới, giá vật liệu xây dựng và nhiều mặt hàng công nghiệp lại đồng loạt tăng”, một quan chức của Tổng công ty Xi măng nói.

Ông Phạm Chí Cường, Tổng thư ký Hiệp hội Thép Việt Nam cho biết, mặc dù ngành thép chỉ sử dụng than cốc trong một số công đoạn luyện thép nhưng các doanh nghiệp trong ngành này cũng rất lo ngại vì phản ứng tăng giá dây chuyền một khi TKV tăng giá.

Trao đổi với Sài Gòn Tiếp thị ngày 10/3, ông Hoàng Thọ Xuân, Vụ trưởng Vụ Thị trường trong nước (Bộ Công Thương) cũng nói rằng: “Thêm giá than tăng nữa thì chắc chắn tác động đến giá cả thị trường rất lớn. Tôi đồng ý là nhiều loại mặt hàng trọng yếu của nền kinh tế cũng phải điều chỉnh, nhưng cần có cách nào để giãn các đợt điều chỉnh giá ra chứ dồn dập cùng tăng thế này, sẽ rất khó cho việc kiềm chế mức tăng giá cả”.

(Theo Sài Gòn tiếp thị)

24.6.08

INDUSTRY CENTER YAHOO

View: By Sector | Alphabetical

Basic Materials

Agricultural Chemicals

Aluminum

Chemicals - Major Diversified

Copper

Gold

Independent Oil & Gas

Industrial Metals & Minerals

Major Integrated Oil & Gas

Nonmetallic Mineral Mining

Oil & Gas Drilling & Exploration

Oil & Gas Equipment & Services

Oil & Gas Pipelines

Oil & Gas Refining & Marketing

Silver

Specialty Chemicals

Steel & Iron

Synthetics

Conglomerates

Conglomerates

Consumer Goods

Appliances

Auto Manufacturers - Major

Auto Parts

Beverages - Brewers

Beverages - Soft Drinks

Beverages - Wineries & Distillers

Business Equipment

Cigarettes

Cleaning Products

Confectioners

Dairy Products

Electronic Equipment

Farm Products

Food - Major Diversified

Home Furnishings & Fixtures

Housewares & Accessories

Meat Products

Office Supplies

Packaging & Containers

Paper & Paper Products

Personal Products

Photographic Equipment & Supplies

Processed & Packaged Goods

Recreational Goods, Other

Recreational Vehicles

Rubber & Plastics

Sporting Goods

Textile - Apparel Clothing

Textile - Apparel Footwear & Accessories

Tobacco Products, Other

Toys & Games

Trucks & Other Vehicles

Financial

Accident & Health Insurance

Asset Management

Closed-End Fund - Debt

Closed-End Fund - Equity

Closed-End Fund - Foreign

Credit Services

Diversified Investments

Foreign Money Center Banks

Foreign Regional Banks

Insurance Brokers

Investment Brokerage - National

Investment Brokerage - Regional

Life Insurance

Money Center Banks

Mortgage Investment

Property & Casualty Insurance

Property Management

REIT - Diversified

REIT - Healthcare Facilities

REIT - Hotel/Motel

REIT - Industrial

REIT - Office

REIT - Residential

REIT - Retail

Real Estate Development

Regional - Mid-Atlantic Banks

Regional - Midwest Banks

Regional - Northeast Banks

Regional - Pacific Banks

Regional - Southeast Banks

Regional - Southwest Banks

Savings & Loans

Surety & Title Insurance

Healthcare

Biotechnology

Diagnostic Substances

Drug Delivery

Drug Manufacturers - Major

Drug Manufacturers - Other

Drug Related Products

Drugs - Generic

Health Care Plans

Home Health Care

Hospitals

Long-Term Care Facilities

Medical Appliances & Equipment

Medical Instruments & Supplies

Medical Laboratories & Research

Medical Practitioners

Specialized Health Services

Industrial Goods

Aerospace/Defense - Major Diversified

Aerospace/Defense Products & Services

Cement

Diversified Machinery

Farm & Construction Machinery

General Building Materials

General Contractors

Heavy Construction

Industrial Electrical Equipment

Industrial Equipment & Components

Lumber, Wood Production

Machine Tools & Accessories

Manufactured Housing

Metal Fabrication

Pollution & Treatment Controls

Residential Construction

Small Tools & Accessories

Textile Industrial

Waste Management
Services

Advertising Agencies

Air Delivery & Freight Services

Air Services, Other

Apparel Stores

Auto Dealerships

Auto Parts Stores

Auto Parts Wholesale

Basic Materials Wholesale

Broadcasting - Radio

Broadcasting - TV

Building Materials Wholesale

Business Services

CATV Systems

Catalog & Mail Order Houses

Computers Wholesale

Consumer Services

Department Stores

Discount, Variety Stores

Drug Stores

Drugs Wholesale

Education & Training Services

Electronics Stores

Electronics Wholesale

Entertainment - Diversified

Food Wholesale

Gaming Activities

General Entertainment

Grocery Stores

Home Furnishing Stores

Home Improvement Stores

Industrial Equipment Wholesale

Jewelry Stores

Lodging

Major Airlines

Management Services

Marketing Services

Medical Equipment Wholesale

Movie Production, Theaters

Music & Video Stores

Personal Services

Publishing - Books

Publishing - Newspapers

Publishing - Periodicals

Railroads

Regional Airlines

Rental & Leasing Services

Research Services

Resorts & Casinos

Restaurants

Security & Protection Services

Shipping

Specialty Eateries

Specialty Retail, Other

Sporting Activities

Sporting Goods Stores

Staffing & Outsourcing Services

Technical Services

Toy & Hobby Stores

Trucking

Wholesale, Other

Technology

Application Software

Business Software & Services

Communication Equipment

Computer Based Systems

Computer Peripherals

Data Storage Devices

Diversified Communication Services

Diversified Computer Systems

Diversified Electronics

Healthcare Information Services

Information & Delivery Services

Information Technology Services

Internet Information Providers

Internet Service Providers

Internet Software & Services

Long Distance Carriers

Multimedia & Graphics Software

Networking & Communication Devices

Personal Computers

Printed Circuit Boards

Processing Systems & Products

Scientific & Technical Instruments

Security Software & Services

Semiconductor - Broad Line

Semiconductor - Integrated Circuits

Semiconductor - Specialized

Semiconductor Equipment & Materials

Semiconductor- Memory Chips

Technical & System Software

Telecom Services - Domestic

Telecom Services - Foreign

Wireless Communications

Utilities

Diversified Utilities

Electric Utilities

Foreign Utilities

Gas Utilities

Water Utilities

9.6.07

Khu công nghiệp được đầu tư thành lập đến năm 2000

QUYẾT ĐỊNH CỦA THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Về việc bổ sung danh mục khu công nghiệp ưu tiên đầu tư đến năm 2000

THỦ TƯỚNG CHÍNH PHỦ

Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992;

Căn cứ Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1997;

Xét Tờ trình số 4784/BKH-QLDA ngày 05 tháng 8 năm 1997 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư và Tờ trình số 150/BQL ngày 18 tháng 7 năm 1997 của Trưởng ban Ban quản lý các khu công nghiệp Việt Nam,

QUYẾT ĐỊNH:

Điều 1. Bổ sung các khu công nghiệp sau đây vào danh mục các khu công nghiệp được đầu tư thành lập đến năm 2000 tại Quyết định 519/TTg ngày 06 tháng 8 năm 1996:

1. Khu công nghiệp Thuỵ Vân (Phú Thọ),

2. Khu công nghiệp Kim Hoa (Vĩnh Phúc),

3. Khu công nghiệp Sông Công (Thái Nguyên),

4. Khu công nghiệp Phú Cát (Hà Tây),

5. Khu công nghiệp Lệ Môn (Thanh Hoá),

6. Khu công nghiệp Nghi Sơn (Thanh Hoá),

7. Khu công nghiệp Vũng Áng (Hà Tĩnh),

8. Khu công nghiệp Đường 9 (Quảng Trị),

9. Khu công nghiệp Bắc Chu Lai (Quảng Nam),

10. Khu công nghiệp Quảng Phú (Quảng Ngãi),

11. Khu công nghiệp Phú Tài (Bình Định),

12. Khu công nghiệp Hiệp Hoà - Tuy Hoà (Phú Yên),

13. Khu công nghiệp Phan Thiết (Bình Thuận),

14. Khu công nghiệp Hưng Phú (Cần Thơ),

15. Khu công nghiệp Đức Hoà 1 (Long An),

16. Khu công nghiệp Mỹ Tho (Tiền Giang),

17. Khu công nghiệp tại tỉnh Đồng Tháp (Sa Đéc hoặc Cao Lãnh)

Điều 2. Căn cứ vào danh mục các khu công nghiệp được bổ sung trên đây, Uỷ ban nhân dân các tỉnh có liên quan tổ chức, chỉ đạo việc lập báo cáo khả thi trình Thủ tướng Chính phủ xét duyệt theo quy định hiện hành. Khi lập báo cáo nghiên cứu khả thi phải làm rõ các vấn đề nêu tại Điều 4 của Quy chế Khu công nghiệp, Khu chế xuất, Khu công nghệ cao ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24 tháng 4 năm 1996 của Chính phủ.

Điều 3. Quyết định này có hiệu lực sau 15 ngày kể từ ngày ký.

Điều 4. Các Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởng cơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban Nhân dân các tỉnh có liên quan, Trưởng ban Ban Quản lý các khu công nghiệp Việt Nam và các Trưởng ban Quản lý khu công nghiệp cấp tỉnh có trách nhiệm thi hành Quyết định này./.

KT. THỦ TƯỚNG
PHÓ THỦ TƯỚNG
(Đã ký)
Trần Đức Lương

Định hướng phát triển ngành kinh tế

(Trích Văn kiện Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X: Báo cáo của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa IX ngày ngày 10/4/2006 về phương hướng, nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm 2006 – 2010)

1- Tạo chuyển biến mạnh mẽ trong sản xuất nông nghiệp và kinh tế nông thôn

Hiện nay và trong nhiều năm tới, vấn đề nông nghiệp, nông dân và nông thôn vẫn có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng. Phải luôn luôn coi trọng đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn hướng tới xây dựng một nền nông nghiệp hàng hoá lớn, đa dạng, phát triển nhanh và bền vững, có năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh cao; bảo đảm vững chắc an ninh lương thực và tạo điều kiện từng bước hình thành nền nông nghiệp sạch; phấn đấu giá trị tăng thêm trong ngành nông, lâm, ngư nghiệp tăng 3 - 3,2%/năm. Tốc độ phát triển công công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn không thấp hơn tốc độ bình quân cả nước. Gắn phát triển kinh tế với xây dựng nông thôn mới, giải quyết tốt hơn mối quan hệ giữa nông thôn và thành thị, giữa các vùng miền, góp phần giữ vững ổn định chính trị xã hội.

Thúc đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp và kinh tế nông thôn, chuyển mạnh sang sản xuất các loại sản phẩm có thị trường và hiệu quả kinh tế cao; đẩy mạnh thâm canh các loại cây trồng trên cơ sở áp dụng các loại quy trình sản xuất đồng bộ và tiên tiến; quy hoạch diện tích sản xuất lương thực ổn định; phát triển mạnh chăn nuôi theo hướng quy mô lớn, an toàn dịch bệnh và bền vững về môi trường. Xây dựng các vùng sản xuất nông sản hàng hoá tập trung gắn với việc chuyển giao công nghệ sản xuất và chế biến, khắc phục tình trạng sản xuất manh mún, tự phát.

Phát huy lợi thế khí hậu nhiệt đới, tiếp tục thực hiện có hiệu quả chương trình bảo vệ và phát triển rừng. Nâng cao chất lượng rừng phòng hộ, rừng đặc dụng, phát triển mạnh việc trồng mới và khai thác bền vững rừng sản xuất để nâng cao khả năng đáp ứng nhu cầu trước mắt và lâu dài về nguyên liệu gỗ cho chế biến hàng tiêu dùng và xuất khẩu; bảo đảm lợi ích thoả đáng của người được giao kinh doanh, chăm sóc và bảo vệ rừng.

Phát triển nuôi trồng thuỷ sản theo hướng sản xuất hàng hoá lớn, phục vụ xuất khẩu và thị trường nội địa đi đôi với bảo vệ môi trường sinh thái; chuyển đổi cơ cấu khai thác qua việc lựa chọn ngư trường, loại hình nghề nghiệp và sản phẩm để nâng cao giá trị hàng hoá, sử dụng hợp lý nguồn lợi, giảm chi phí. Nâng cao sức cạnh tranh, bảo đảm tăng trưởng bền vững trong sản xuất, chế biến và xuất khẩu thuỷ sản.

Quy hoạch và có chính sách phát triển nghề làm muối và cải thiện đời sống diêm dân.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn, nhất là những ngành nghề sử dụng nhiều lao động, coi đây là hướng chính để tạo ra nhiều việc làm mới, góp phần tăng nhanh thu nhập cho nông dân. Phát triển mạnh công nghệ bảo quản, chế biến, giảm nhanh tổn thất sau thu hoạch, đồng thời nâng cao nhanh giá trị gia tăng cho các loại nông, lâm, thuỉy sản, nhất là sản phẩm xuất khẩu chủ lực.

Thực hiện các giải pháp đồng bộ để chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn, nhất là: đưa nhanh khoa học và công nghệ vào sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp; có chính sách đủ mạnh để khuyến khích phát triển nhanh các doanh nghiệp và hoạt động dịch vụ ở nông thôn; tiếp tục đầu tư phát triển đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội ở nông thôn; tập trung giải quyết tốt các vấn đề xã hội bức xúc và xây dựng nông thôn mới.

Đẩy mạnh nghiên cứu và chuyển giao khoa học, công nghệ; tăng cường hệ thống khuyến nông, lâm, ngư, thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ kỹ thuật khác ở nông thôn, tạo sự đột phá về năng suất, chất lượng, hiệu quả trong nông, lâm, ngư nghiệp. Triển khai chương trình ứng dụng công nghệ sinh học, nâng cao chất lượng giống cây trồng, vật nuôi, kể cả giống thuỷ, hải sản đến cơ sở; chuyển giao nhanh và đồng bộ công nghệ tiên tiến trồng trọt, chăn nuôi gia súc, gia cầm và nuôi trồng thuỷ sản và công nghệ chế biến nông, lâm, thuỷ sản; chú ý áp dụng công nghệ cao để sản xuất nông sản, thực phẩm sạch theo tiêu chuẩn quốc tế và xây dựng các khu nông nghiệp công nghệ cao. Nâng cao khả năng phòng ngừa và khắc phục dịch bệnh đối với cây trồng, vật nuôi, đặc biệt là gia súc, gia cầm và thuỷ sản. Xây dựng cơ chế bảo hiểm nông sản để chủ động bù đắp thiệt hại khi bị thiên tai hoặc khi giá cả biến động bất lợi, nhất là đối với lương thực.

Tạo điều kiện thuận lợi hơn để giúp nông dân chuyển sang làm ngành nghề và dịch vụ. Tiếp tục điều chỉnh chính sách khuyến khích để các doanh nghiệp và hợp tác xã đầu tư phát triển công nghiệp và dịch vụ, nhất là công nghiệp chế biến nông, lâm, thuỷ sản; giảm nhanh và hết sức hạn chế việc xuất khẩu nông, lâm, thuỷ sản chưa qua chế biến. Chú trọng phát triển kinh tế trang trại, các loại hình kinh tế hợp tác; đẩy nhanh việc sắp xếp lại và đổi mới quản lý các nông, lâm trường; phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp nhỏ và vừa trong công nghiệp và dịch vụ ở nông thôn; phát triển các làng nghề. Khuyến khích nông dân bằng đóng góp quyền sử dụng đất và lao động của mình hợp tác với các doanh nghiệp, hợp tác xã, các chủ trang trại để phát triển sản xuất hàng hoá, ổn định và cải thiện đời sống. Khuyến khích hơn nữa đầu tư nước ngoài vào nông nghiệp, nông thôn.

Tăng đầu tư từ ngân sách nhà nước và đa dạng các nguồn vốn để phát triển mạnh kết cấu hạ tầng nông thôn; thúc đẩy cơ giới hoá, hiện đại hoá nông thôn. Ưu tiên nâng cấp và xây dựng mới các hệ thống thuỷ lợi đồng bộ, đi đôi với đổi mới và nâng cao hiệu quả quản lý để khai thác có hiệu quả các công trình đã đưa vào sử dụng, đáp ứng nhu cầu về nước cho nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, cho công nghiệp, dịch vụ và nước cho sinh hoạt ở nông thôn. Củng cố hệ thống hồ, đập, đê, kè ven sông, ven biển; nâng cấp các hệ thống cảnh báo, chủ động phòng chống lụt bão và giảm nhẹ thiệt hại do thiên tai, bảo vệ môi trường nước. Đẩy nhanh việc đầu tư xây dựng để hoàn thành có chất lượng chương trình cụm tuyến dân cư vùng ngập lũ ở đồng bằng Sông Cửu Long. Tiếp tục đầu tư phát triển giao thông nông thôn, bảo đảm các xã đều có đường ô tô tới khu trung tâm, từng bước phát triển đường ô tô tới thôn, bản; phấn đấu đến năm 2010, trên 90% hộ dân cư nông thôn có điện sinh hoạt, trên 75% dân cư nông thôn có nước sạch.

Chú trọng đào tạo nghề, tạo việc làm cho nông dân và cho lao động nông thôn, nhất là các vùng Nhà nước thu hồi đất để xây dựng kết cấu hạ tầng và phát triển các cơ sở phi nông nghiệp. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động ở nông thôn theo hướng giảm nhanh tỷ trọng lao động làm nông nghiệp, tăng tỷ trọng lao động làm công nghiệp và dịch vụ. Tạo điều kiện cho lao động nông thôn có việc làm cả trong công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và dịch vụ, tại chỗ và ngoài khu vực nông thôn, kể cả ở nước ngoài. Nhà nước đầu tư nhiều hơn và phát huy khả năng trợ giúp của xã hội để thực hiện tốt xoá đói, giảm nghèo ở nông thôn, đặc biệt ở các vùng sâu, vùng xa. Giải quyết ổn định vấn đề lương thực cho các hộ thuộc diện nghèo, nhất là đồng bào dân tộc thiểu số, gắn với việc giao khoán rừng.

Xây dựng hoàn chỉnh các quy hoạch phát triển nông nghiệp và nông thôn. Tổ chức chương trình xây dựng nông thôn mới nhằm xây dựng các làng, xã, ấp, bản có cuộc sống văn minh, sạch đẹp, gắn với việc hình thành các khu dân cư đô thị hoá. Phát huy dân chủ đi đôi với xây dựng nếp sống văn hoá, bài trừ các tệ nạn xã hội ở nông thôn; gìn giữ và phát huy những truyền thống văn hoá tốt đẹp của các dân tộc.

2- Phát triển nhanh hơn công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại hoá

Phát huy sức mạnh của tất cả các thành phần kinh tế, đa dạng hoá hình thức sở hữu và quy mô để phát triển công nghiệp và xây dựng với cơ cấu ngành nghề phù hợp với nguồn lực, lợi thế và thị trường ở các vùng, các địa phương. Nâng cao sức cạnh tranh, hàm lượng khoa học công nghệ và tỉ trọng giá trị tăng thêm, giá trị nội địa trong sản phẩm công nghiệp và xây dựng. Phát triển công nghiệp và xây dựng gắn với phát triển dịch vụ, phát triển đô thị và bảo vệ môi trường. Phấn đấu đạt tốc độ tăng giá trị tăng thêm trong công nghiệp và xây dựng 10 - 10,2%/năm.

Phát triển đồng bộ công nghiệp chế biến, chế tác, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng, công nghiệp quốc phòng, góp phần xây dựng nền tảng cho một nước công nghiệp và nâng cao khả năng tự chủ của nền kinh tế. Xây dựng và thực hiện tốt chương trình phát triển công nghiệp phục vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.

Tập trung nguồn lực phát triển mạnh và nâng cao chất lượng các ngành công nghiệp có lợi thế cạnh tranh, tạo ra sản phẩm xuất khẩu và thu hút nhiều lao động, như: chế biến nông, lâm, thuỷ sản; may mặc, giày dép, đồ nhựa, đồ gỗ gia dụng; cơ khí đóng tàu, công nghiệp chế tạo thiết bị đồng bộ, thiết bị điện, thiết bị xây dựng, máy nông nghiệp, phương tiện giao thông, sản xuất và lắp ráp cơ - điện tử; công nghiệp bổ trợ, công nghiệp công nghệ thông tin, sản xuất phần mềm. Nâng tỉ trọng sản phẩm công nghiệp xuất khẩu đã qua chế biến. Chú trọng phát triển công nghiệp năng lượng đi đôi với áp dụng công nghệ tiết kiệm năng lượng; công nghiệp vật liệu và công nghệ tiết kiệm nguyên vật liệu; công nghiệp dược và các chế phẩm sinh học; công nghiệp bảo vệ môi trường.

Việc phát triển các ngành công nghiệp sản xuất tư liệu sản xuất quan trọng chủ yếu là dựa vào nguồn lực của các thành phần kinh tế, bao gồm cả đầu tư trực tiếp của nước ngoài. Căn cứ vào nguồn lực và hiệu quả, Nhà nước tập trung đầu tư hoặc hỗ trợ đầu tư để phát triển những sản phẩm quan trọng của nền kinh tế, như: lọc hoá dầu, khai thác quặng và luyện thép, phân bón, hoá chất, xi măng, khai thác bô - xít và sản xuất alumin, bột giấy gắn với trồng rừng, một số sản phẩm cơ khí chế tạo.

Hoàn chỉnh quy hoạch phát triển các khu, cụm, điểm công nghiệp trên cả nước; hình thành các vùng công nghiệp trọng điểm; gắn việc phát triển sản xuất với bảo đảm nhà ở và các điều kiện sinh hoạt cho người lao động. Chuyển các sở công nghiệp trong nội thành, nội thị, gần khu đông dân cư không bảo đảm tiêu chuẩn môi trường vào các khu công nghiệp tập trung hoặc các vùng ít dân cư.

Huy động các nguồn lực (nhà nước, doanh nghiệp, nhân dân, cộng đồng) để xoá nhà ở dột nát, nhà ở tạm bợ cho người nghèo; phát triển nhanh quỹ nhà để đáp ứng cơ bản nhu cầu nhà ở cho công chức, viên chức, người lao động, sinh viên, học sinh, nhất là công nhân các khu công nghiệp, khu chế xuất.

Tăng cường hợp tác liên kết, đưa ngành công nghiệp và xây dựng nước ta hội nhập vào khu vực và quốc tế, trước hết thông qua việc thu hút mạnh đầu tư và công nghệ nguồn của các công ty đa quốc gia tham gia phát triển công nghiệp và xây dựng ở Việt Nam.

3- Xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng kinh tế, xã hội theo hướng hiện đại

Trên cơ sở bổ sung, hoàn chỉnh quy hoạch, Nhà nước ưu tiên dành vốn ngân sách và huy động các nguồn lực khác để đẩy nhanh việc xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng trong từng vùng và trên cả nước, xem đây là một khâu đột phá để phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay và chuẩn bị cho bước tiếp theo. Khuyến khích, tạo điều kiện cho các thành phần kinh tế, kể cả doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tham gia phát triển lĩnh vực này. Chú trọng các công trình quan trọng, thiết yếu, phát huy nhanh tác dụng. Khắc phục tình trạng đầu tư dàn trải, thất thoát, lãng phí.

Tập trung huy động các nguồn lực để ưu tiên hoàn chỉnh một bước cơ bản kết cấu hạ tầng giao thông đường bộ, đường sông, đường sắt, đường biển, đường hàng không đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội. Cải tạo, nâng cấp và xây dựng mới các công trình thuỷ lợi có nhu cầu cấp bách, gắn với phát triển thuỷ điện, đáp ứng yêu cầu sản xuất nông nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản, nước sinh hoạt của dân cư và giảm nhẹ thiên tai.

Phát triển nhanh nguồn điện với cơ cấu hợp lý, hoàn chỉnh hệ thống truyền tải, bảo đảm sự vận hành an toàn, hiệu quả, đáp ứng đủ điện cho yêu cầu phát triển kinh tế, xã hội, cả ở khu vực miền núi, vùng sâu, vùng xa và hải đảo. Nhà nước tập trung đầu tư và khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư để phát triển nhanh ngành điện trên nguyên tắc cạnh tranh lành mạnh và thực hiện cơ chế thị trường về giá bán điện, đồng thời có chính sách trợ giúp hợp lý đối với các hộ nghèo.

Tăng nhanh năng lực và hiện đại hoá bưu chính - viễn thông; tiếp tục đẩy mạnh phát triển kết cấu hạ tầng thông tin hiện đại, đồng bộ và ổn định đáp ứng cho phát triển kinh tế - xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm sự cạnh tranh bình đẳng trong lĩnh vực dịch vụ thông tin.

Rà soát, bổ sung và nâng cao chất lượng quy hoạch, tiếp tục tổ chức thực hiện các định hướng phát triển đô thị đến năm 2020, hình thành hệ thống đô thị phù hợp trên địa bàn cả nước; đặc biệt chú trọng phát triển các đô thị vừa và nhỏ, hạn chế tập trung dân cư vào một số ít thành phố lớn; xây dựng đồng bộ và từng bước hiện đại hệ thống kết cấu hạ tầng đô thị, chú trọng hoàn thiện mạng lưới giao thông, hệ thống cấp nước sinh hoạt, cung cấp đủ nước sạch và giải quyết cơ bản vấn đề thoát nước và xử lý chất thải ở các đô thị, các khu công nghiệp; quản lý chặt chẽ việc thực hiện qui hoạch và các qui chế về đô thị.

Nhà nước tăng tỉ trọng đầu tư ngân sách cho phát triển kết cấu hạ tầng xã hội, nhất là cho giáo dục, y tế.

4- Tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ

Phát triển nhanh khu vực dịch vụ đáp ứng được yêu cầu và phù hợp với tiềm năng còn rất lớn của nước ta và xu hướng phát triển chung của thế giới; tận dụng tốt thời cơ hội nhập kinh tế quốc tế để tạo bước phát triển vượt bậc của khu vực dịch vụ, đưa tốc độ tăng trưởng khu vực dịch vụ cao hơn tốc độ tăng GDP, phấn đấu đạt 7,7 - 8,2%/năm.

Ưu tiên phát triển các ngành dịch vụ có tiềm năng lớn và sức cạnh tranh cao. Tiếp tục mở rộng và nâng cao chất lượng các ngành dịch vụ truyền thống, như vận tải, thương mại, du lịch, ngân hàng, bưu chính - viễn thông. Phát triển mạnh các dịch vụ phục vụ sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, phục vụ đời sống ở nông thôn. Mở rộng các dịch vụ mới, nhất là những dịch vụ cao cấp, dịch vụ có hàm lượng trí tuệ cao, dịch vụ hỗ trợ kinh doanh. Trong sự phát triển nhanh hơn của dịch vụ vận tải, cần tạo lập và phát triển mạnh dịch vụ vận tải đa phương thức và dịch vụ hỗ trợ các phương thức vận tải. Tiếp tục phát triển mạnh thương mại trong nước trên tất cả các vùng và gia tăng nhanh xuất khẩu. Phát triển mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động du lịch, đa dạng hoá sản phẩm và các loại hình du lịch. Hiện đại hoá và mở rộng các dịch vụ ngân hàng theo kịp yêu cầu phát triển thị trường tài chính, tiền tệ và hội nhập kinh tế quốc tế. Phát triển các dịch vụ pháp luật, kiểm toán, bảo hiểm, khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hoá, thông tin, thể thao; tăng số lượng và nâng cao chất lượng dịch vụ việc làm, an sinh xã hội.

Nhà nước kiểm soát chặt chẽ độc quyền và tạo môi trường thuận lợi cho các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế tham gia và cạnh tranh bình đẳng trên thị trường dịch vụ.

Đổi mới căn bản cơ chế quản lý và phương thức cung ứng các dịch vụ công cộng là khâu đột phá quan trọng để đưa tiến trình xã hội hoá các lĩnh vực văn hoá - xã hội lên một bước phát triển mới.

Trong điều kiện xây dựng nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập kinh tế quốc tế, phải luôn coi trọng yêu cầu nâng cao các phúc lợi xã hội cơ bản của nhân dân, bảo đảm tính ưu việt của chế độ xã hội chủ nghĩa, đặc biệt là đối với người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách; đồng thời, không xem nhẹ việc đáp ứng những nhu cầu của bộ phận ngày càng đông dân cư có thu nhập cao hơn. Nhà nước tăng thêm ngân sách tiếp tục đầu tư phát triển cơ sở vật chất - kỹ thuật để nâng cao phúc lợi chung cho toàn xã hội và bảo đảm cung ứng các dịch vụ xã hội cơ bản, trước hết là về y tế, giáo dục cho người nghèo, vùng nghèo, các đối tượng chính sách; đồng thời, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển các cơ sở dịch vụ tư nhân và cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài.

Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị công lập cung ứng dịch vụ công cộng theo hướng tự chủ, tự chịu trách nhiệm, thực hiện hạch toán thu - chi không vì lợi nhuận; Nhà nước không bao cấp tràn lan.

Dịch vụ công cộng là lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống của nhân dân và là yếu tố quan trọng góp phần ổn định xã hội; vì vậy, việc chuyển đổi phương thức cung ứng các loại dịch vụ này cần được thực hiện một cách kiên định và tích cực, nhưng phải theo một kế hoạch đồng bộ và một lộ trình phù hợp.

5- Tạo bước ngoặt về hội nhập kinh tế quốc tế và hoạt động kinh tế đối ngoại

Thực hiện tốt đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; chủ động, tích cực hội nhập kinh tế sâu hơn và đầy đủ hơn với khu vực và thế giới. Thực hiện có hiệu quả các cam kết với các nước, các tổ chức quốc tế về thương mại, đầu tư, dịch vụ và các lĩnh vực khác. Thực hiện các cam kết của Khu vực mậu dịch tự do ASEAN và tích cực tham gia quá trình xây dựng Cộng đồng kinh tế ASEAN. Chuẩn bị tốt các điều kiện để bảo đảm thực hiện các cam kết khi nước ta gia nhập WTO.

Tiếp tục đổi mới thể chế kinh tế, hoàn chỉnh hệ thống pháp luật bảo đảm lợi ích quốc gia và phù hợp với các quy định, thông lệ quốc tế. Tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư, chú trọng cải cách hành chính, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập những điều kiện thuận lợi hơn nữa để khai thác lợi thế của đất nước và khắc phục những vướng mắc ảnh hưởng đến việc thu hút các nguồn vốn quốc tế, như vốn ODA, vốn đầu tư trực tiếp, gián tiếp dưới nhiều hình thức, tín dụng thương mại và các nguồn vốn quốc tế khác.

Tăng cường thu hút vốn đầu tư nước ngoài, phấn đấu đạt trên 1/3 tổng nguồn vốn đầu tư phát triển toàn xã hội trong 5 năm. Mở rộng lĩnh vực, địa bàn và hình thức thu hút FDI, hướng vào những thị trường giàu tiềm năng và các tập đoàn kinh tế hàng đầu thế giới, tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về số lượng và chất lượng, hiệu quả nguồn FDI; tranh thủ nguồn vốn ODA đi đôi với việc đẩy nhanh tốc độ giải ngân, nâng cao hiệu quả sử dụng và có kế hoạch đảm bảo trả nợ. Từng bước mở rộng đầu tư gián tiếp của nước ngoài và có chính sách hiệu quả hơn để thu hút kiều hối vào phát triển kinh tế. Tạo điều kiện thuận lợi và có cơ chế khuyến khích các hoạt động đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam.

Tận dụng điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, chủ động và khẩn trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới công nghệ và quản lý, phát huy lợi thế so sánh, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, của sản phẩm và dịch vụ Việt Nam tại thị trường trong nước và trên thế giới. Đẩy nhanh xuất khẩu, chủ động về nhập khẩu, kiềm chế và thu hẹp dần nhập siêu; phấn đấu tăng nhanh tỉ trọng xuất khẩu các sản phẩm chế biến có giá trị gia tăng cao, giàu hàm lượng công nghệ, có sức cạnh tranh, tạo thêm các sản phẩm xuất khẩu chủ lực mới, hết sức hạn chế và tiến tới chấm dứt xuất khẩu tài nguyên thiên nhiên và nông sản chưa qua chế biến. Củng cố và mở rộng thị trường xuất khẩu, tạo thị trường ổn định cho các mặt hàng có khả năng cạnh tranh; tăng thêm thị phần ở các thị trường lớn và khai mở các thị trường còn nhiều tiềm năng. Phấn đấu đưa tổng kim ngạch xuất khẩu 5 năm tới lên hơn hai lần 5 năm trước.

Phát huy tính năng động của doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong hội nhập kinh tế quốc tế. Từng doanh nghiệp phải khẩn trương đổi mới từ tư duy đến phong cách quản lý, đổi mới thiết bị, công nghệ, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư, giảm chi phí để tăng sức cạnh tranh. Xúc tiến mạnh thương mại và đầu tư, phát triển thị trường mới, sản phẩm mới và thương hiệu mới. Khuyến khích các doanh nghiệp Việt Nam hợp tác, liên doanh với các doanh nghiệp nước ngoài và mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài.

(Nguồn: Website Đảng Cộng sản Việt Nam)